Hóa học của dị ứng

Thời tiết mấy ngày nay ở nơi tôi sống gần đây chẳng dễ chịu chút nào. Thời tiết thì ảm đạm, nhiều mây, mù sương vào sáng sớm. Độ ẩm thì cao dẫn đến mũi của tôi cứ khụt khịt mãi chẳng dễ chịu chút nào. Nếu bạn cũng có những triệu chứng giống như tôi thì chắc hẳn bạn đang bị viêm mũi dị ứng. Đây chỉ là một loại bệnh thường gây ra bởi thời tiết thay đổi, khói bụi do ô nhiễm môi trường bên ngoài và các tác nhân gây dị ứng từ môi trường bên trong như các loại bọ hoặc bụi bẩn trong sinh hoạt… ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và sinh hoạt của hơn 150 triệu người trên toàn thế giới.

bởi vậy trong bài viết lần này, blog sẽ đề cập về hóa học của dị ứng để giúp cho các bạn hiểu rõ hơn về loại bệnh này, cũng như những điều thích thú xung quanh chủ đề này nhé!

Giới thiệu

Vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu là một trong những chủ đề được quan tâm hàng đầu trên toàn cầu. Tại Việt Nam , tình trạng ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu luôn ở mức báo động. Theo thưa chất lượng môi trường EPI 2016 (Đại học Yale, Mỹ), Việt Nam xếp thứ 170/180 quốc gia và vùng bờ cõi về chất lượng môi trường và cũng là một trong 6 quốc gia chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ biến đổi khí hậu. Trong đó, trên 87% dân số mắc phải các triệu chứng viêm mũi dị ứng, chỉ riêng tại TP.HCM, có khoảng 1.5 triệu người bị viêm mũi dị ứng mạn tính.

Vậy thì dị ứng là gì?

Để giải đáp cho câu hỏi chuẩn xác dị ứng là gì, thật sự không rõ ràng. Những gì được biết cho đến thời khắc hiện tại, là thân thể của một số người phản ứng thái quá với sự hiện diện của một số chất. Những chất này không tạo ra ảnh hưởng xấu ở hồ hết mọi người. cơ thể con người có thể vượt qua những tác động này bằng cách sản xuất kháng thể. Chúng là những protein có cấu trúc phức tạp được gọi là globulin .

Có ba loại cơ bản của globulin là alpha, beta và gamma. hầu hết các phân tử kháng thể là gamma globulin. Vì mối quan hệ của chúng với hệ thống miễn nhiễm, chúng còn được gọi là immunoglobulin và được ký hiệu là Ig. Có năm loại globulin miễn nhiễm khác nhau là: IgA, IgD, IgE, IgG và IgM. Trong đó, liên can đến phản ứng dị ứng chủ yếu thuộc loại IgE.

Những chất kích thích sinh sản kháng thể là gọi là kháng nguyên . Kháng nguyên thường là protein hoặc phức hợp giữa cấu trúc protein và carbohydrate. Khi bạn có phản ứng dị ứng, những kháng nguyên này là một phần nhỏ của chất đó đã xâm nhập vào cơ thể và gây ra các phản ứng. ví dụ như chúng có thể bao gồm bụi, phấn hoa và nọc độc của sâu bọ.

Sau đó, các tế bào trong thân thể phân tích kháng nguyên này và chuyển thông báo về chúng cho các tế bào khác tạo ra các kháng thể. Những kháng thể này tiến công một kháng nguyên cụ thể và có ít hoặc không có tác dụng với các kháng nguyên khác. Các kháng thể vẫn còn trong máu sau khi loại bỏ kháng nguyên. Các kháng thể IgE chịu trách nhiệm chính cho nhiều phản ứng dị ứng phổ thông nhất như như sốt cỏ khô, suyễn, sốc phản vệ, nổi mề đay và chàm.

Không ai được sinh ra với kháng thể IgE trong thân của họ. Khi lần trước tiên xúc tiếp với chất gây dị ứng, phải mất khoảng 10 ngày trước khi IgE phát triển. Đến lúc này chất gây dị ứng đã biến mất nên không có phản ứng dị ứng xảy ra. tiếp xúc lần thứ hai hoặc muộn hơn với chất gây dị ứng thì dĩ nhiên sẽ gây ra phản ứng dị ứng. Tuy nhiên cần phải mất nhiều lần tiếp xúc thì dị ứng mới xuất hiện.

Vai trò của IgE

IgE không phải là một cấu trúc protein đơn (phân tử) mà là một lớp phân tử. mỗi loại lại có cấu trúc hơi khác nhau. Mỗi phân tử phản ứng với một kháng nguyên cụ thể. Đây là lý do vì sao mọi người lại có những triệu chứng dị ứng biệt lập.

IgE hiện diện trong thân với số lượng cực nhỏ, khoảng 1 phần triệu trong huyết tương. Người bị phản ứng dị ứng có nhiều IgE hơn bình thường. thí dụ, một người mắc bệnh suyễn dị ứng có lượng IgE cao gấp sáu lần so với một người mắc bệnh suyễn không dị ứng và những người bị sốt cỏ khô có IgE cao gấp 14 lần so với người không dị ứng.

Đuôi của một phân tử IgE (có hình chữ Y) gắn vào các tế bào khăng khăng trong cơ thể được gọi là tế bào mast (hay còn gọi là dưỡng bào). Một tế bào mast đơn có thể liên kết hơn 100.000 phân tử IgE. Trong tế bào mast là các hạt chứa hóa chất được xem là mediator (chất trung gian). Khi một chất gây dị ứng kết hợp với phân tử IgE trên tế bào mast, các chất trung gian được giải phóng.

mặc dù nhiều hóa chất khác nhau có mặt như là chất trung gian, nhưng chỉ có hai trong số chúng nghe đâu đóng vai trò trong dị ứng của con người. Đó là histamine và chất phản ứng chậm (gọi tắt là SRA-A). Trong đó, histamine là hóa chất chịu nghĩa vụ cho phản ứng chúng ta thường gặp, can dự đến dị ứng như ngứa, sưng, và sổ mũi.

Những loại dị ứng căn bản

Có bốn cách để chất gây dị ứng giật cơ thể chúng ta. Đó là (a) hít, (b) ăn, (c) chạm và (d) tiêm. Một khi các chất gây dị ứng hiện diện trong thân, có hai loại dị ứng khác nhau phản ứng. Chúng được phân loại là tức khắc hoặc bị trì hoãn, tùy thuộc vào thời kì cần thiết phản ứng dị ứng xuất hiện.

Một phản ứng lập tức là một trong đó các triệu chứng xuất hiện trong vòng vài phút sau tiếp xúc với chất gây dị ứng. Trong khi đó, một phản ứng chậm trễ mất ít ra bốn giờ hoặc đôi khi thậm chí vài ngày sau khi xúc tiếp để cho các triệu chứng xuất hiện. Điển hình của phản ứng chậm là dị ứng tiếp xúc như nước hoa trong xà phòng, cây thường xuân độc và chối từ nội tạng.

Có các cơ chế khác nhau đang hoạt động trong hai loại phản ứng dị ứng. Cơ chế được mô tả ở trên vận dụng cho phản ứng dị ứng ngay tức thì. Tuy nhiên, trong các phản ứng chậm trễ, không kháng thể được tìm thấy trong máu; thay vì phản ứng chậm trễ qua trung gian của các tế bào. Nhiều phản ứng chậm trễ hệ trọng đến các loại miễn nhiễm khác. IgG có hệ trọng đến nguyên tố Rh , điều này liên hệ đến trẻ sơ sinh và viêm phổi dị ứng. IgA và IgM có liên hệ đến các phản ứng dị ứng can dự đến huyết mạch và thận. Cả IgA và IgE có liên quan đến dị ứng thực phẩm thường xảy ra ở người người thiếu IgA. IgA ngăn chặn dị ứng thực phẩm bằng cách kết hợp với dị ứng liên can đến những dị ứng này.

dù rằng người ta thường cho rằng một số loại phản ứng dị ứng có thể được kích hoạt bởi găng tay và phản ứng cảm xúc, điều này là không đúng sự thật. căng thẳng và xúc cảm có thể làm tăng thêm một phản ứng, đặc biệt là trong hen phế quản và sốt cỏ khô nhưng chúng chẳng thể bắt đầu một phản ứng. Tuy nhiên, có một mối tương quan giữa di truyền và dị ứng. Nếu một trong ba mẹ bạn bị dị ứng,thì bạn sẽ có thời cơ bị dị ứng hơn. Nếu cả bác mẹ bạn đều bị dị ứng thì nhịp bạn bị dị ứng là khoảng 80%, dù rằng nó có thể không nhất mực là dị ứng giống như bác mẹ bạn.

Vai trò của histamine

Histamine , được hình thành bởi sự cố của một axit amin phổ thông được gọi là histidine, được tìm thấy ở nồng độ cao trong các hạt trong các tế bào mast, và phóng thích khi các hạt di chuyển đến các cạnh bên ngoài của tế bào mast. Chúng thải ra histamine thông qua một lỗ hổng trợ thời trong màng tế bào.

Trong các phản ứng tức thì, histamine có thể chiếm nhiều, nếu không phải vớ, các triệu chứng can hệ đến một phản ứng dị ứng. Histamine gây ra sự giãn nở của các mạch máu và làm tăng khả năng chất lỏng trong máu rò rỉ ra khỏi mao quản. Những chất lỏng này chịu nghĩa vụ cho sưng mô. Histamine cũng gây co và sưng các cơ trơn, kích thích sản xuất nước bọt, nước mắt và tiết ra chất nhầy. Nó cũng có thể gây ra sự sụt giảm lớn áp huyết và tạo ra một tình trạng được biết đến như sốc phản vệ, dẫn đến tử vong.

Cách xử lý dị ứng

Ba phương pháp được dùng trong điều trị dị ứng: (a) tránh, (b) giải mẫn cảm, và (c) hóa chất (thuốc). Khi một người biết anh ấy / cô ấy dị ứng với nguyên liệu gì, điều trị tốt nhất là tránh gây dị ứng càng nhiều càng tốt. Trong một số trường hợp dường như chuyển sang một phần khác của đất nước có thể viện trợ, đặc biệt là dị ứng với phấn hoa, nhưng nói chung điều này không hoạt động. Những người bị sốt cỏ khô chuyển di từ một phần của quốc gia có lượng phấn hoa cao đến mức thấp về phấn hoa, thường bị dị ứng với các loại phấn hoa khác nhau tìm thấy trong ngôi nhà mới của họ.

Liệu pháp giải nhạy cảm can dự đến tiêm một lượng chất gây dị ứng ngày càng tăng nếu người có nồng độ IgE cao. Các thuật ngữ hiện đại cho giải nhạy cảm là quá mẫn cảm, có nghĩa là giảm độ nhạy. Một lượng nhò chất gây dị ứng được tiêm trong một khoảng thời kì trong tuần. Tuy nhiên, hiệu quả không rõ ràng cho đến sáu hoặc mười hai tháng điều trị. Tiêm được thực hiện trong phòng mạch của bác sĩ vì khả năng phản ứng nghiêm trọng (sốc phản vệ) với chích thuốc.

Có vẻ lạ khi tiêm một người với cùng một chất gây dị ứng gây ra vấn đề, nhưng quy trình có vẻ hiệu quả tăng lượng kháng thể IgG trong thân hình. Những kháng thể ngăn chặn sự phối hợp của chất gây dị ứng với IgE, ngăn chặn sự phóng thích của các trung gian hóa học. Liệu pháp này là đặc biệt hữu ích cho dị ứng với ong, hornet, và ong bầu, và có hiệu quả đối với dị ứng phấn hoa.

Sau đây là cách xử lý hóa học liên can đến ba nhóm thuốc khác nhau: Epinephrine (adrenaline), steroid và thuốc kháng histamine,

  • Thuốc kháng histamine

Thuốc kháng histamine có nhẽ là tốt nhất được biết đến và phân phối rộng rãi nhất trong các hóa chất được dùng để làm giảm triệu chứng dị ứng. Hơn 50 loại thuốc kháng histamine khác nhau có sẵn ở trên thế giới, thường kết hợp với thuốc thông mũi hoặc thuốc giảm đau trong thuốc ho.

Thuốc kháng histamine không chữa dị ứng. Chúng làm việc bằng cách cạnh tranh với histamine cho các vị trí trên các tế bào. Bằng cách ngăn chặn histamine từ những vị trí này, chúng ngăn ngừa sưng, ngứa và các triệu chứng khác liên quan đến phản ứng của histamine với các tế bào. Các histamine sớm có thể đi qua màng não và gây buồn ngủ, dẫn đến việc sử dụng chúng như thuốc ngủ. Hai trong số các thuốc kháng histamine mới hơn, astemizole và terfenadine, không thể vượt qua rào cản này, và do đó không gây buồn ngủ. Các tác dụng phụ nghiêm trọng khác gần đây đã được liên kết với những thuốc kháng histamine này.

Có rất nhiều lý do thuốc kháng histamine ảnh hưởng đến những người khác nhau theo những cách khác nhau. Chỉ bằng cách làm việc với bác sĩ của bạn, bạn có thân xác định đâu là cách tốt nhất cho bạn để thực hành.

  • Epinephrine

Epinephrine (adrenaline) là loại thuốc mạnh trước tiên được bán để điều trị dị ứng. Nó làm giảm các cơ trong phế quản và do đó có hiệu quả trong hen phế quản. Khi mọi người đang hấp tấp đến bệnh viện với một phản ứng dị ứng nghiêm trọng, epinephrine được tiêm. Điều này đã cứu mạng nhiều người đã bị sốc phản vệ do phản ứng với chất gây dị ứng. Epinephrine được biết đến như một loại thuốc giao cảm, vì nó kích thích hệ thống tâm thần giao cảm cùng với việc làm giãn cơ trơn.

Nhiều hợp chất khác cũng được dùng như hóa chất giao cảm: được biết đến nhiều hơn là noradrenaline (norepinephrine), ephedrine và isoproterenol. Các xanthine và theophylline là rưa rứa nhau. Theophylline thường được sử dụng trong thuốc dạng hít như một chất làm giãn phế quản. Nó cũng được dùng để xác định dung tích phổi. Một số bệnh nhân bị vấn đề phế quản cảm thấy họ có thể thở tốt hơn sau khi uống một cốc cà phê. Điều này xảy ra vì theophylline là một trong hàng trăm hóa chất được tìm thấy trong mùi hương cà phê.

  • Steroids

Các adrenocorticoid ( corticosteroids ) cũng rất quan yếu trong điều trị dị ứng. Một số loại thuốc steroid phổ quát hơn được sử dụng là hydrocortison, prednison, betamethasone, triamcinolone, và fluocinolone. Chúng giúp giảm đỏ, sưng và ngứa can dự đến phản ứng dị ứng và đặc biệt hữu ích cho hen phế quản, nổi mề đay, rối loạn mắt, và bệnh chàm. Steroid làm giảm sưng và tích trữ chất lỏng can dự đến các phản ứng dị ứng, vì vậy chúng có thể được sử dụng trong các trường hợp nặng của hen phế quản.

Trên đây là những thông tin căn bản về hóa học của dị ứng. nhìn nhận sẽ giúp ích cho các bạn phần nào. Lần sau nếu có ai hỏi về vấn đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau nhé!

Tham khảo Henry Daley , Ahmed Elshemy , C&EN Jessica Griswold .

Hóa học về cấu trúc của DNA

DNA là gì? Và vì sao chúng lại quan trọng đối với chúng ta? Chắc có nhẽ ai trong số các bạn đang đọc bài viết này đều đã được học và biết từ năm cấp 2 rồi đúng không nào? đương nhiên, không chỉ ở người mà DNA được tìm thấy trong các tế bào của mọi dạng sống đa bào trên Trái đất. Tuy nhiên để hiểu rõ về hóa học của nó thì không phải ai cũng hiểu. Bài viết này sẽ giúp cho các bạn hiểu rõ hơn về cấu trúc của DNA và cách chúng cho phép tạo ra protein nhé!

Đôi nét về lịch sử

DNA được tìm thấy trong nhân của các tế bào ở các sinh vật đa bào, và lần trước nhất được phân lập vào năm 1869, bởi bác sĩ người Thụy Sĩ Friedrich Miescher. Tuy nhiên, cấu trúc của nó đã không được làm minh bạch cho đến gần một thế kỷ sau đó, vào năm 1953. Các tác giả của bài báo mà cấu trúc này được đề xuất là James Watson & Francis Crick, và đã giành giải thưởng Nobel cho công trình của họ. Tuy nhiên, công trình này phụ thuộc rất nhiều vào công việc của một nhà khoa học khác, Rosalind Franklin.

Bản thân Franklin cũng đang nghiên cứu cấu trúc của DNA và từ bức ảnh chụp X-quang của bà ấy, cho thấy rõ cấu trúc xoắn kép của DNA, hỗ trợ rất nhiều cho công việc của họ. Cô vẫn chưa ban bố phát hiện của mình khi Watson và Crick có được quyền truy cập vào chúng mà không biết. Tuy nhiên, việc cô không giành được giải thưởng Nobel không phải là một trường hợp sơ sểnh, mà chỉ là hậu quả từ chính sách của ủy ban Nobel rằng các giải thưởng chẳng thể được trao tặng sau đó.

Cấu trúc của DNA

Mô hình xoắn kép của DNA (axit deoxyribonucleic) bao gồm hai sợi đan xen. Các chuỗi này được tạo thành từ các nucleotide, bản thân chúng bao gồm ba thành phần: một nhóm đường, một nhóm phốt phát và một bazơ. Các nhóm đường và phốt phát phối hợp tạo thành “xương sống” lặp lại của các chuỗi DNA. Có bốn bazơ khác nhau có khả năng gắn vào nhóm đường: adenine, thymine, guanine và cytosine, được chỉ định A, T, G và C.

Các bazơ là những gì cho phép hai chuỗi DNA giữ lại với nhau. Các lực liên phân tử mạnh gọi là liên kết hydro giữa các bazơ trên các dải liền kề chịu nghĩa vụ cho việc này. Do cấu trúc của các bazơ khác nhau, adenine (A) luôn tạo liên kết hydro với thymine (T), trong khi guanine (G) luôn tạo kết liên hydro với cytosine (C). Trong DNA của con người, nhàng nhàng có 150 triệu cặp bazơ trong một phân tử.

Khả năng tự sao chép

Các tế bào trong thân thể bạn liên tiếp phân chia, tái hiện và chết, nhưng để quá trình này xảy ra, DNA trong tế bào phải có khả năng tự sao chép. Trong quá trình phân chia tế bào, hai chuỗi DNA tách ra và hai chuỗi đơn sau đó có thể được dùng làm mẫu để tạo phiên bản mới theo nguyên tắc bổ sung. Vì A luôn ghép với T và G luôn ghép với C, nên có thể tạo ra chuỗi các bazơ trên một chuỗi bằng cách dùng chuỗi trái lại và điều này cho phép DNA tự sao chép. Quá trình này được thực hiện bởi một họ enzyme gọi là DNA polymerase.

sinh sản protein

Khi DNA được sử dụng để tạo protein, hai sợi cũng phải tách ra. Tuy nhiên, trong trường hợp này, mã của DNA được sao chép sang mRNA (axit ribonucleic messenger), một quá trình được gọi là “phiên mã”. Cấu trúc của RNA rất giống với cấu trúc của DNA, nhưng với một đôi điểm dị biệt chính. đầu tiên, nó chứa một nhóm đường khác nhau trong xương sống đường phốt phát của phân tử: ribose thay vì deoxyribose. Thứ hai, nó vẫn sử dụng các bazơ A, G và C, nhưng thay vì bazơ T, nó dùng uracil, U. Cấu trúc của uracil rất giống với thymine, trong đó không có nhóm methyl (CH 3 ) là độc nhất vô nhị sự dị biệt.

Khi các nucleotide của DNA đã được sao chép, mRNA có thể rời khỏi nhân của tế bào và đi đến tế bào chất, nơi diễn ra quá trình tổng hợp protein. Ở đây, các phân tử phức tạp được gọi là ribosome ‘đọc’ chuỗi các bazơ trên phân tử mRNA. Các axit amin riêng lẻ, kết hợp tạo nên protein, được mã hóa bởi bộ ba mã hóa của chuỗi mRNA. Các mã khác nhau có thể, và các axit amin mà chúng mã hóa, đã được tạo ra. Một loại RNA khác như RNA chuyển vận, chịu trách nhiệm chuyên chở axit amin đến mRNA và cho phép chúng kết hợp với nhau.

Lỗi trong quá trình sao chép

Tuy nhiên, quá trình này không phải lúc nào cũng hoàn hảo. Lỗi có thể xảy ra khi sao chép chuỗi DNA vào mRNA và các lỗi tình cờ này được gọi là đột biến. Các lỗi có thể ở dạng bazơ đã thay đổi, hoặc thậm chí là bazơ bị xóa hoặc thêm. Một số hóa chất và bức xạ có thể gây ra những thay đổi này, nhưng chúng cũng có thể xảy ra trong trường hợp không có các tác động bên ngoài này. Chúng có thể dẫn đến mã của một axit amin bị thay đổi thành mã khác hoặc thậm chí chẳng thể đọc được. Một số bệnh có thể do đột biến trong quá trình sao chép DNA, bao gồm xơ nang và thiếu máu hồng huyết cầu hình liềm, nhưng đáng để ý là đột biến cũng có thể có tác động tích cực.

mặc dầu chỉ có 20 axit amin, thân thể con người có thể phối hợp chúng để tạo ra một con số đáng ngạc nhiên với khoảng 100.000 protein. Sáng tạo của chúng là một quá trình liên tiếp và một chuỗi protein độc nhất có thể có 10-15 axit amin được thêm vào mỗi giây. Vì mục đích của bài này cốt tử là để giới thiệu cấu trúc hóa học của DNA, cuộc thảo luận về sao chép và tổng hợp protein đã được giữ ngắn gọn và tương đối đơn giản. Nếu bạn thích đọc thêm về chủ đề này, hãy xem các kết liên tham khảo được cung cấp ở cuối bài.

Trên đây là những nét huých và đơn giản về cấu trúc của DNA và cách chúng tạo ra protein. Hi vọng sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong tương lai. Lần sau nếu có ai hỏi về chúng thì hãy nhớ về hóa học đằng sau nhé!

Tham khảo Compound Interest , Chemguide , Genome Beth A. Montelone .

Hóa học về testosterone sức mạnh đàn ông

hiện tại những bệnh lý về nam giới như rối loạn cương dương, giảm thèm muốn, rụng tóc…ngày càng trở thành phổ thông. Và một trong số những nguyên do chính là sự thiếu hụt testosterone. Đây là một loại hormone nội sinh trong thân thể. Việc tăng hay giảm cũng ảnh hưởng phần nào đến sức khỏe của chúng ta. Nhưng khi nói về hóa học của chúng thì không phải ai cũng biết. thành ra trong bài viết lần này chúng ta sẽ tìm hiểu về hóa học của testosterone sức mạnh của đàn ông và một số thông tin liên hệ nhé!

Chú ý: Bài viết này chỉ dành cho mục đích cung cấp thông tin và không dùng để cung cấp tư vấn y tế.

một đôi định nghĩa

Androgen là hormone truyền tín hiệu hóa học (chemical messenger), được thực hiện bởi các tuyến trong thân xảy ra trong máu để tác động trên các cơ quan khác trong thân. Hormone này cần thiết cho sự tăng trưởng, sản xuất và hạnh phúc. Androgen là hormone sinh dục nam gia tăng ở độ tuổi dậy thì và cần cho một cậu bé phát triển thành một người trưởng thành về tình dục có thể sinh sản. Trong đó, các androgen quan yếu nhất là testosterone.

Testosterone là androgen quan trọng nhất (hormone sinh dục nam) ở nam giới và nó cần thiết cho chức năng sản xuất và dục tình thông thường. Testosterone rất quan yếu đối với những đổi thay thể chất xảy ra trong tuổi dậy thì của nam giới, chẳng hạn như sự phát triển của dương vật và dịch hoàn, và cho đặc điểm tiêu biểu của đàn ông trưởng thành như mặt và lông trên thân và một vóc dáng nam tính. Testosterone cũng tác động lên các tế bào trong dịch hoàn để tạo ra tinh trùng.

Về mặt hóa học thì testosterone là một hormone steroid mạnh có công thức hóa học là C(19)-H(28)-O(2). ngoại giả, nó còn được gọi là 17-beta-hydroxy-4-androstene-3-one.

Cấu trúc hóa học của Testosterone.

Có hai loại testosterone được tìm thấy trong máu của bạn:

  • Testosterone tự do (còn được gọi là T tự do) là testosterone không bị ràng buộc hóa học với bất kỳ thứ gì khác.
  • Testosterone buộc ràng chiếm đa số trong tổng mức testosterone của bạn. Khoảng 98 phần trăm testosterone trong máu của bạn được liên kết với một trong hai loại protein: albumin hoặc globulin gắn hormone sinh dục (SHBG).

Testosterone cũng quan yếu cho tổng thể sức khỏe tốt. Nó giúp sự phát triển của xương và cơ bắp, và ảnh hưởng đến tâm trạng và ham muốn dục tình. Một số testosterone được chuyển đổi thành estrogen, hormone giới tính nữ, và điều này rất quan yếu đối với sức khỏe của xương ở nam giới.

Tổng quan

Testosterone là một hormone sinh dục nam, một trong những nhóm hợp chất được gọi là androgen. Bao gồm trong nhóm này là testosterone, dihydrotestosterone và androstenedione. Các androgen được tổng hợp từ cholesterol và được xem là hormone steroid, ví dụ như hormone giới tính nữ estrogen. Sự cô lập và tổng hợp testosterone đã được bẩm vào năm 1935. Hai nhà hóa học Adolf Butenandt và Leopold Ruzicka sau đó đã nhận được giải thưởng Nobel về hóa học (năm 1939) cho công trình này và những khám phá liên hệ.

Testosterone (cũng có một lượng nhỏ ở nữ) kích thích sự phát triển của cơ quan sinh sản nam và thúc đẩy sự phát triển của các đặc điểm giới tính thứ cấp nam. Nó cũng ảnh hưởng đến sự phân bố lông trên thân, chứng hói đầu, giọng nói và độ dày của da và thúc đẩy từng nguyên tố sau: sự hình thành tinh trùng, hình thành protein, phát triển cơ bắp, phát triển xương, giữ canxi, tốc độ chuyển hóa căn bản và số lượng các tế bào hồng cầu trong thân thể.

Ở nam giới, testosterone được sản xuất và tiết ra quá nhiều bởi tinh hoàn. Sau khi bài xuất, 97 phần trăm testosterone bị ràng buộc bởi chất mang protein trong máu và lưu thông trong cơ thể trong ba mươi đến sáu mươi phút. Tại thời điểm này, nó đã được tiếp thụ bởi các mô khác nhau hoặc bị phân hủy thành các phân tử không hoạt động. phần nhiều testosterone được các mô tiếp thụ khử thành dihydrotestosterone, một bước rất cần thiết để hiện thực hóa một số tác dụng của testosterone. Testosterone không được thu nhận bởi các mô sẽ bị suy thoái bởi gan và các sản phẩm của sự thoái hóa này sẽ được đào thải khỏi thân thể.

Phản ứng khử testosterone thành DHT

Lượng testosterone trong thân

Khi bạn đi soát mức testosterone, bác sĩ sẽ coi xét cả mức testosterone tự do và tổng mức testosterone của bạn. Tổng mức testosterone của bạn bao gồm cả testosterone tự do và buộc ràng. Và giá trị này đổi thay trong suốt cả ngày. Chúng cao nhất vào buổi sáng và thấp hơn vào buổi tối.

Phạm vi thường ngày của testosterone một phần phụ thuộc vào phòng thí điểm và sự giải thích của bác sĩ. Với những gì đã nói, sau đây là một số giá trị chung.

Dành cho nam từ 19 tuổi trở lên:

  • Tổng testosterone nên nằm trong khoảng 240-950 ng/dL
  • Testosterone tự do nên nằm trong khoảng 9-30 ng/dL

Dành cho nữ từ 19 tuổi trở lên:

  • Tổng testosterone nên nằm trong khoảng 8-60 ng/dL
  • Testosterone tự do nên nằm trong khoảng 0,3-1,9 ng/dL

Đơn vị ký hiệu ng/dL có tức là nanogram/deciliter.

Bạn có thể tham khảo thêm bài viết tại đây để cập nhật thông báo thêm nhé!

Testosterone và nam giới

Một nhóm nghiên cứu do bác sĩ Joel Finkelstein dẫn đầu tại Bệnh viện Đa khoa Massachusetts đã điều tra nồng độ testosterone và estradiol ở 400 người đàn ông khỏe mạnh, từ 20 đến 50 tuổi. Để kiểm soát nồng độ hormone, trước tiên, các nhà nghiên cứu đã cho những người tham dự tiêm một loại thuốc ức chế sản xuất testosterone và estradiol bình thường của họ. Những người đàn ông được phân ngẫu nhiên vào 5 nhóm nhận được lượng khác nhau (từ 0 đến 10 gram) của một loại gel testosterone 1% hàng ngày trong 16 tuần. Một nửa số người dự cũng được cho dùng một loại thuốc để ngăn chặn testosterone được chuyển đổi thành estradiol.

Những người tham gia đã được nhìn thấy cứ sau 4 tuần. Máu được lấy để đo nồng độ hormone và bảng câu hỏi được đưa ra để đánh giá chức năng thể chất, tình trạng sức khỏe, nhựa sống và chức năng dục tình. Số đo mỡ cơ thể và cơ bắp cũng được thực hiện vào đầu và cuối 16 tuần.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng liều testosterone cấp thiết để tạo ra các hiệu ứng khác nhau trong thân thể rất đa dạng. Ảnh hưởng của testosterone và estradiol cũng khác nhau. Khi giảm liều testosterone gel, các nhà khoa học cho thấy, việc giảm khối lượng nạc, kích thước cơ bắp và sức mạnh của chân do kết quả của việc giảm testosterone. trái lại, sự gia tăng chất béo trong thân là do sự suy giảm can dự đến estradiol. Cả nồng độ testosterone và estradiol đều can hệ đến thèm muốn và chức năng cương dương.

Nghiên cứu này thiết lập chừng độ testosterone mà tại đó các chức năng sinh lý khác nhau bắt đầu bị suy yếu, điều này có thể giúp đưa ra một lý do để xác định người đàn ông nào nên được điều trị bằng các chất bổ sung testosterone. Nhưng điều kinh ngạc lớn nhất là một số triệu chứng thường được quy cho sự thiếu hụt testosterone thực thụ là một phần hoặc gần như chỉ do sự suy giảm estrogen là kết quả chẳng thể tách rời của mức testosterone thấp hơn.

Các nhà nghiên cứu đang tiến hành các thể nghiệm lâm sàng tiếp theo để giải quyết các tác động của việc thay thế testosterone cả về các biện pháp trong nghiên cứu này và các nghiên cứu khác, chả hạn như sức khỏe của xương và tuyến tiền liệt.

Vậy điều gì xảy ra khi lượng testosterone thấp và cao hơn thường nhật?

A. Testosterone thấp

Theo một bài báo của Trường Y Harvard cho biết mức độ testosterone (gọi tắt là T) giảm thiên nhiên theo tuổi tác, nhưng chuẩn xác mức độ nào cấu thành ” T thấp “, hay suy sinh dục đang gây bàn cãi. Mức testosterone khác nhau rất nhiều, và thậm chí có thể khác nhau tùy thuộc vào thời kì trong ngày chúng được đo (mức độ có xu hướng thấp hơn vào buổi tối). Theo Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ (gọi tắt là NIH) thì những điều sau đây là triệu chứng có thể có của testosterone thấp:

  • Giảm thèm muốn tình dục
  • Rối loạn cương dương hoặc bất lực
  • Tăng kích tấc vú
  • Số lượng tinh trùng giảm
  • Nóng bừng
  • Trầm cảm, khó chịu và không có khả năng tập hợp
  • tinh hoàn teo lại và mềm
  • Mất khối lượng cơ hoặc tóc
  • Xương dễ bị gãy

Tuy nhiên, điều quan yếu cần lưu ý là các điều kiện khác với T thấp có thể gây ra rối loạn chức năng cương dương, chả hạn như các bệnh về thần kinh hoặc máu.

Các bác sĩ thường điều trị cho nam giới bị suy sinh dục nếu họ có triệu chứng testosterone thấp và nồng độ testosterone của họ dưới 300 nanogram mỗi deciliter.

B. Testosterone cao

Nồng độ testosterone cao có thể gây ra vấn đề ở nữ giới, bao gồm chu kỳ kinh nguyệt không đều, làm tăng lông trên cơ thể và mụn trứng cá, và làm cho giọng nói trầm hơn. Phụ nữ mắc hội chứng buồng trứng đa nang có lượng hormone nam cao, bao gồm testosterone, có thể là nguyên do gây vô sinh.

Liệu pháp testosterone

Testosterone lần đầu tiên được dùng như một loại thuốc lâm sàng vào đầu năm 1937, nhưng ít hiểu biết về cơ chế của nó. Hormone hiện được kê toa rộng rãi cho những người đàn ông có thân thể thiên nhiên sinh sản chừng độ thấp. Nhưng chừng độ thiếu hụt testosterone có liên hệ về mặt y tế vẫn chưa được hiểu rõ. sinh sản testosterone thường nhật rất khác nhau ở nam giới, thành thử thật khó để biết chừng độ nào có ý nghĩa y tế. Cơ chế hoạt động của hormone cũng không rõ ràng.

Đối với những người lo lắng về testosterone thấp hoặc cao, bác sĩ có thể thực hành xét nghiệm máu để đo lượng hormone trong máu của bệnh nhân. Khi các bác sĩ tìm thấy “T-thấp”, họ có thể kê toa liệu pháp testosterone, trong đó bệnh nhân dùng phiên bản nhân tạo của hormone. Điều này có sẵn trong các hình thức sau: một loại gel được vận dụng cho cánh tay trên (upper arm), vai hoặc bụng hàng ngày; một miếng dán da đặt trên thân thể hoặc bìu hai lần một ngày; một dung dịch ứng dụng cho nách; tiêm hai hoặc ba tuần một lần; một miếng dán đặt trên nướu hai lần một ngày; hoặc cấy ghép kéo dài bốn đến sáu tháng.

Đàn ông sử dụng gel testosterone phải có biện pháp đề phòng, chả hạn như rửa tay và che các khu vực nơi sử dụng gel, theo Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (gọi tắt là FDA) . đàn bà và trẻ con không nên chạm vào gel hoặc da nơi bôi gel hoặc miếng dán.

Ở những người đàn ông lớn tuổi bị thiếu hụt testosterone đích thực, các chuyên gia cho biết điều trị bằng testosterone đã được chứng minh là làm tăng sức mạnh và ham muốn tình dục. Nhưng thỉnh thoảng, các triệu chứng rối loạn cương dương là do các tình trạng khác, bao gồm bệnh tiểu đường và trầm cảm, theo Mayo Clinic . Điều trị những người đàn ông này bằng hormone testosterone sẽ không cải thiện triệu chứng.

Có rất nhiều tuyên bố khác về những gì liệu pháp testosterone có thể làm, nhưng vẫn đang được thử nghiệm. Ví dụ, người ta đã nghĩ rằng có lẽ nó sẽ giúp giảm chứng mất trí nhớ hệ trọng đến tuổi. Một nghiên cứu kiểm soát giả dược năm 2017 được công bố trên Hiệp hội y học Hoa Kỳ (gọi tắt là JAMA), cho thấy trong 788 người đàn ông lớn tuổi được thí điểm, điều trị bằng testosterone không giúp giảm chứng mất trí nhớ do tuổi tác .

Nó cũng có thể trở thành một phương pháp điều trị cho bệnh thiếu máu, mật độ xương và các vấn đề sức mạnh. Trong một nghiên cứu năm 2017 được công bố trên tập san của JAMA, phương pháp điều trị bằng testosterone đã điều chỉnh bệnh thiếu máu ở những người đàn ông lớn tuổi có nồng độ testosterone thấp tốt hơn so với giả dược. Một nghiên cứu khác năm 2017 được ban bố trên JAMA cho thấy những người đàn ông lớn tuổi có testosterone thấp đã tăng sức mạnh và mật độ xương sau khi điều trị khi so sánh với giả dược.

Phản ứng phụ

Sự an toàn của điều trị testosterone vẫn đang được nghiên cứu. Nó có một số tác dụng phụ có thể và một số tác dụng dài hạn có thể là tốt.

Ví dụ, điều trị bằng testosterone làm giảm số lượng tinh trùng , cho nên Michael A. Werner, một chuyên gia về andropological, hay “mãn kinh nam giới”, khuyến cáo rằng những người đàn ông mong muốn khả năng sản xuất trong mai sau nên tránh các phương pháp điều trị bằng testosterone.

Theo một nghiên cứu năm 2009 tại trọng tâm Y tế Boston, các tác dụng phụ khác bao gồm tăng nguy cơ mắc các vấn đề về tim ở những người đàn ông lớn tuổi, khả năng di chuyển kém. Một nghiên cứu năm 2017 được công bố trên JAMA cho thấy các phương pháp điều trị làm tăng thể tích mảng bám động mạch vành. Ngoài ra, Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đề nghị các nhà sinh sản phải kèm theo thông tin về việc ghi nhãn rằng các quốc gia đang điều trị bằng testosterone có thể dẫn đến nguy cơ đau tim và đột quỵ. FDA khuyến cáo rằng bệnh nhân dùng testosterone nên đi khám ngay nếu họ có những triệu chứng sau:

  • Đau ngực
  • Khó thở hoặc có vấn đề về thở
  • Yếu ở một phần hoặc một bên của thân thể
  • Nói lắp

Theo Mayo Clinic thì việc điều trị cũng có thể làm tăng nguy cơ ngưng thở khi ngủ, xúc tiến tuyến tiền liệt và vú phát triển, và thậm chí khuyến khích sự phát triển của ung thư tuyến tiền liệt.

Trên đây là những điều huých về hóa học của testosterone sức mạnh đàn ông. nhóng sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong ngày mai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ đến hóa học đằng sau nhé!

để ý: Bài viết này chỉ dành cho mục đích cung cấp thông tin và không dùng để cung cấp tham vấn y tế.

Tham khảo Verywellheath , NIH , Chemistry Explained , Livescience , Healthymale VMA .

Nobel y học 2019: Cảm biến oxy trong cơ thể

Động vật cần oxy để chuyển đổi thức ăn thành năng lượng hữu dụng. Tầm quan trọng cơ bản của oxy đã được hiểu trong nhiều thế kỷ, nhưng làm thế nào các tế bào thích nghi với sự đổi thay nồng độ oxy từ lâu vẫn chưa được biết đến.

William G. Kaelin Jr., Peter J. Ratcliffe và Gregg L. Semenza đã khám phá ra cách các tế bào có thể cảm nhận và thích nghi với việc thay đổi lượng oxy có sẵn. Họ đã xác định cỗ máy phân tử điều chỉnh hoạt động của gen để đáp ứng với chừng độ oxy khác nhau.

Những khám phá tinh tế của những người đoạt giải Nobel năm nay, đã tiết lộ cơ chế cho một trong những quá trình thích nghi cần yếu nhất của cuộc sống. Họ đã thiết lập cơ sở cho sự hiểu biết của chúng ta về chừng độ oxy ảnh hưởng đến chuyển hóa tế bào và chức năng sinh lý. Những khám phá của họ cũng đã mở đường cho những chiến lược mới đầy hứa hẹn để chống lại bệnh thiếu máu, ung thư và nhiều bệnh khác.

Sự quan yếu của oxy

Oxy, với công thức O 2 , chiếm khoảng 1/5 bầu khí quyển của Trái đất. Oxy rất cần thiết cho đời sống động vật: nó được sử dụng bởi ty thể có trong hồ hết các tế bào động vật, để chuyển đổi thức ăn thành năng lượng hữu ích. Otto Warburg , người nhận giải thưởng Nobel về sinh lý học hoặc y khoa năm 1931, tiết lộ rằng việc chuyển đổi này là một quá trình enzyme.

Trong quá trình tiến hóa, các cơ chế được phát triển để bảo đảm cung cấp đủ oxy cho các mô và tế bào. Động mạch cảnh của thân, liền kề với các huyết quản lớn ở hai bên cổ, chứa các tế bào chuyên biệt cảm nhận mức oxy của máu. Giải thưởng Nobel về y khoa năm 1938 cho Corneille Heymans , đã trao giải cho những khám phá cho thấy cảm giác oxy trong máu qua thân động mạch cảnh kiểm soát nhịp hô hấp của chúng ta bằng cách giao tiếp trực tiếp với não.

HIF: nhân tố gây thiếu oxy

Ngoài việc thích nghi nhanh của cơ thể do carotid (động mạch cảnh chung) kiểm soát với mức oxy thấp ( thiếu oxy ), còn có những điều chỉnh sinh lý căn bản khác. Một phản ứng sinh lý quan yếu đối với tình trạng thiếu oxy là sự gia tăng nồng độ hormone erythropoietin (gọi tắt là EPO), dẫn đến tăng sản xuất hồng huyết cầu. Tầm quan trọng của việc kiểm soát nội tiết của hồng cầu đã được biết đến vào đầu thế kỷ 20, nhưng quá trình này được kiểm soát bởi O 2 vẫn còn là một bí ẩn.

Gregg Semenza đã nghiên cứu gen EPO và cách nó được điều chỉnh bằng cách đổi thay nồng độ oxy. Bằng cách dùng chuột biến đổi gen, các phân đoạn DNA cụ thể nằm bên cạnh gen EPO đã được hiển thị để làm trung gian cho phản ứng với tình trạng thiếu oxy. Peter Ratcliffe cũng đã nghiên cứu khả năng phụ thuộc O 2 của gen EPO và cả hai nhóm nghiên cứu đều phát hiện ra rằng cơ chế cảm nhận oxy có mặt trong hồ hết tất cả các mô, không chỉ trong các tế bào thận nơi EPO thường được sản xuất. Đây là những phát hiện quan yếu cho thấy cơ chế này nói chung và hoạt động ở nhiều loại tế bào khác nhau.

Semenza muốn xác định các thành phần tế bào làm trung gian cho phản ứng này. Trong các tế bào gan nuôi cấy, ông đã phát hiện ra một phức hợp protein liên kết với đoạn DNA được xác định theo cách phụ thuộc oxy. Ông gọi phức hợp này là yếu tố gây thiếu oxy (gọi tắt là HIF). Những cố kỉnh mở mang để tinh chế phức hợp HIF bắt đầu và vào năm 1995, Semenza đã có thể công bố một số phát hiện quan yếu của mình, bao gồm cả việc xác định các gen mã hóa HIF. HIF được tìm thấy bao gồm hai protein kết liên DNA khác nhau, được gọi là các yếu tố phiên mã, hiện được đặt tên là HIF-1α và ARNT. bây chừ các nhà nghiên cứu có thể bắt đầu giải câu đố, cho phép họ hiểu những thành phần bổ sung nào có can hệ và cách thức hoạt động của cỗ máy.

VHL: một nguyên tố bất ngờ

Khi nồng độ oxy cao, các tế bào chứa rất ít HIF-1α. Tuy nhiên, khi nồng độ oxy thấp, lượng HIF-1α tăng lên để nó có thể liên kết và do đó điều chỉnh gen EPO cũng như các gen khác có các đoạn DNA gắn HIF. Một số nhóm nghiên cứu cho thấy HIF-1α, thường bị suy thoái nhanh chóng, được bảo vệ khỏi sự suy thoái trong tình trạng thiếu oxy.

Ở mức oxy thường ngày, một cỗ máy di động được gọi là proteasome , được xác nhận bởi giải thưởng Nobel về hóa học năm 2004 cho Aaron Ciechanover, Avram Hershko và Irwin Rose, làm suy giảm HIF-1α. Trong điều kiện như vậy một peptide nhỏ, ubiquitin , được thêm vào protein HIF-1α. Ubiquitin có chức năng như một thẻ cho các protein được định sẵn cho sự xuống cấp trong proteasome. Làm thế nào ubiquitin kết liên với HIF-1α theo cách phụ thuộc oxy vẫn là một câu hỏi lớn.

Câu đáp đến từ một hướng bất thần. Gần như cùng lúc với Semenza và Ratcliffe đang tìm hiểu về gen EPO, nhà nghiên cứu ung thư William Kaelin, Jr. đang nghiên cứu một hội chứng di truyền, bệnh von Hippel-Lindau (gọi tắt là bệnh VHL). Bệnh di truyền này dẫn đến tăng đáng kể nguy cơ mắc một số bệnh ung thư trong các gia đình có đột biến VHL di truyền. Kaelin đã chỉ ra rằng gen VHL mã hóa một loại protein ngăn ngừa sự tấn công của bệnh ung thư.

Kaelin cũng chỉ ra rằng các tế bào ung thư thiếu một gen VHL chức năng diễn tả mức độ cao của các gen bị thiếu oxy điều hòa; nhưng khi gen VHL được đưa vào tế bào ung thư, mức độ thông thường đã được phục hồi. Đây là một làm mai quan yếu cho thấy VHL bằng cách nào đó có liên can đến việc kiểm soát các phản ứng đối với tình trạng thiếu oxy. Các dắt mối bổ sung đến từ một số nhóm nghiên cứu cho thấy VHL là một phần của phức hợp gắn nhãn protein với ubiquitin, đánh dấu chúng cho sự xuống cấp trong proteasome.

Ratcliffe và nhóm nghiên cứu của ông sau đó đã thực hiện một khám phá quan yếu: chứng minh rằng VHL có thể tương tác vật lý với HIF-1α và cần thiết cho sự thoái hóa của nó ở mức oxy bình thường. Điều này phối hợp VHL với HIF-1α.

Oxy giúp thăng bằng

Nhiều mảnh ghép đã rơi vào vị trí, nhưng điều vẫn còn thiếu là sự hiểu biết về cách các cấp O 2 điều chỉnh sự tương tác giữa VHL và HIF-1α. Việc cỡ tập kết vào một phần cụ thể của protein HIF-1α được biết là rất quan yếu đối với sự thoái hóa phụ thuộc VHL, và cả Kaelin và Ratcliffe đều ngờ rằng chìa khóa của cảm biến oxy (O 2 -sensing) nằm ở đâu đó trong miền protein này.

Năm 2001, trong hai bài báo được xuất bản song song, họ đã chỉ ra rằng dưới mức oxy thông thường, các nhóm hydroxyl được thêm vào ở hai vị trí cụ thể trong HIF-1α. Điều chỉnh protein này, được gọi là prolyl hydroxylation (sự hydroxyl hóa prolyl) , cho phép VHL nhận biết và kết liên với HIF-1α và do đó giảng giải chừng độ oxy thông thường kiểm soát sự thoái hóa HIF-1α nhanh chóng với sự viện trợ của các enzyme mẫn cảm với oxy (được gọi là prolyl hydroxylase ).

Nghiên cứu sâu hơn của Ratcliffe và những người khác đã xác định các hydroxylase prolyl chịu bổn phận. Nó cũng cho thấy chức năng kích hoạt gen của HIF-1α được điều hòa bởi quá trình hydroxyl hóa phụ thuộc oxy. Những người đoạt giải Nobel ngày nay đã làm minh bạch cơ chế cảm nhận oxy và đã chỉ ra cách thức hoạt động của nó.

Oxy hình trạng sinh lý và bệnh lý

Nhờ vào công trình đột phá của những người đoạt giải Nobel này, chúng ta biết nhiều hơn về cách các mức oxy khác nhau điều chỉnh các quá trình sinh lý căn bản. Cảm biến oxy cho phép các tế bào thích ứng sự thảo luận chất của chúng với mức oxy thấp: ví dụ, trong cơ bắp của chúng ta trong quá trình tập luyện cường độ cao.

Các ví dụ khác về các quá trình thích nghi được điều khiển bằng cảm biến oxy bao gồm việc tạo ra các huyết quản mới và sản xuất các tế bào hồng cầu. Hệ thống miễn nhiễm của chúng ta và nhiều chức năng sinh lý khác cũng được tinh chỉnh bởi bộ máy O 2 -sensing. Cảm biến oxy thậm chí đã được chứng minh là rất cấp thiết trong quá trình phát triển của thai nhi, để kiểm soát sự hình thành huyết quản thông thường và sự phát triển của nhau thai.

Cảm biến oxy là trung tâm của một số lượng lớn các bệnh. tỉ dụ, bệnh nhân suy thận kinh niên thường bị thiếu máu nặng do giảm tả EPO. EPO được sinh sản bởi các tế bào trong thận và rất cần thiết để kiểm soát sự hình thành các tế bào hồng huyết cầu, như đã giảng giải ở trên. Hơn nữa, cỗ máy điều hòa oxy có vai trò quan yếu trong bệnh ung thư. Trong các khối u, cỗ máy điều chỉnh oxy được dùng để kích thích sự hình thành huyết mạch và định hình lại quá trình bàn luận chất để tăng sinh hiệu quả các tế bào ung thư.

Những vậy không ngừng trong các phòng thí nghiệm hàn lâm và các công ty dược phẩm, hiện đang tụ hội vào phát triển các loại thuốc có thể can thiệp vào các tình trạng bệnh khác nhau, bằng cách kích hoạt hoặc chặn cỗ máy cảm biến oxy.

Theo Nobelprize.org .

Hóa học đằng sau stress

Nhịp tim của bạn tăng lên. Hàm của bạn cứng lại. Dạ dày của bạn réo lên khi thời kì cứ trôi. Đầu óc bạn cảm thấy căng lên. Đây là cảm giác của stress hay căng thẳng khi bạn bị áp lực dẫn đến.

Triệu chứng này thì chắc ai cũng biết. Nhưng khi xem xét dưới góc độ hóa học thì đây là một chuỗi nhũng phản ứng xảy ra trong thân chúng ta. nên chi để giúp cho các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này, bài viết lần này sẽ đề cập về hóa học đằng sau stress và những vấn đề can hệ. Bạn hãy pha cho mình một ly cà phê và cùng nhắm nháp bài viết nhé! Let’s go!

Giới thiệu

Hiểu về hóa học của stress bắt đầu bằng sự đánh giá các phân tử trong thân chúng ta gọi là dẫn truyền tâm thần. Được mệnh danh là phân tử xúc cảm, được nhà khoa học đầu tiên phát hiện ra sự tồn tại của chúng là Tiến sĩ Candace Pert, chúng được sản xuất trên khắp cơ thể chúng ta, đặc biệt là trong não và dọc theo đường tiêu hóa. Một trong những chất dẫn truyền tâm thần, serotonin , tuồng như đã được cài đặt trong chúng ta để giảm bớt phản ứng vật lý của chúng ta đối với bít tất tay.

Cái gọi là “phản ứng căng thẳng” được kích hoạt khi tuyến thượng thận, một cặp tuyến có kích tấc bằng quả óc chó nằm trên thận, nhận được thông điệp thống khổ từ não. Tuyến thượng thận phóng thích adrenalin (ephineprine) và cortisol, hai loại hormone lần lượt chủ xướng phản ứng “ fight-or-flight ” (chiến hay chạy).

Các triệu chứng “fight-or-flight” rất thân thuộc như nhịp tim nhanh, co cơ, tay và chân lạnh, nghĩ suy bỏ chạy. Nghe thì có vẻ khó chịu nhưng trong cảnh huống hiệp, chúng rất hữu ích. tỉ dụ như phản ứng của chó khi gặp mèo ấy! Phản ứng găng tay được thiết kế để trở thành một sự kiện “bật và tắt”. Ban đầu, nó không được thiết kế để ứng phó với găng kinh niên.

Tuy nhiên, khi chúng ta phát triển như con người, stress mãn tính đã đi vào cuộc sống của chúng ta. Người ta có thể hình dung người đàn ông thời tiền sử săn bắn nhiều ngày trong tự nhiên và về mặt sinh vật học cần một hệ thống để giữ một cái đầu lạnh. Bằng cách tiết ra serotonin , đây là chất dẫn truyền thần kinh có ích này nghe đâu hoạt động như một bộ đệm chống lại găng tay, cho phép chúng ta thực hành trong môi trường xung quanh đầy thách thức hoặc thậm chí đe dọa.

Hãy coi xét một Ví dụ tiêu biểu cho việc này bằng cách xem phim đặc vụ James Bond, ông là cá nhân chủ nghĩa nguyên mẫu có nhiều serotonin dự phòng. dù rằng đạn bay và nổ tung xe hơi, ông Bond không bao giờ đổ mồ hôi hay thất bại trong việc thực hiện những cảnh nóng.

Thành phần hóa học chính

1. Dehydroepiandrosterone (DHEA)

  • Công thức phân tử: C19 H28 O2
  • M: 288.424 g / mol
  • Điểm nóng chảy: 148,5 độ Celcius hoặc 299 độ Farenheit
Cấu trúc của Dehydroepiandrosterone

DHEA là một hormone nằm ở tuyến thượng thận và có can dự đến căng thẳng vì nó đã được chứng minh là giúp giảm căng thẳng kinh niên hoặc những người bị trầm cảm. Khi nồng độ hormone DHEA tăng, găng tay trong thân sẽ giảm. Đây là loại hormone phổ thông nhất trong cơ thể và giám sát năm mươi loại hormone khác.

Được phát hiện vào những năm 1930, hormone dồi dào này đã sang trọng năm mươi năm tiếp theo được thử nghiệm. Vào những năm 1990 đã mang lại những nghiên cứu lớn nhất về dehydroepiandrosterone khi nó được kết luận đủ an toàn, để bán tại các cửa hàng thực phẩm thiên nhiên vì lý do bổ sung. Nhiều bệnh nhân bị mất cân bằng tuyến thượng thận được cung cấp DHEA để thăng bằng với bất kỳ vấn đề nội tiết nào khác có thể xảy ra.

2. Cortisol

  • Công thức phân tử: C21 H30 O5
  • M: 362.460 g / mol
  • Điểm nóng chảy: không rõ
Cấu trúc của Cortisol

rưa rứa như DHEA, cortisol là một loại hormone được tìm thấy ở tuyến thượng thận. Cortisol được tiết ra trong quá trình “fight-or-flight” cho phép cơ thể nghĩ suy nhanh chóng và hợp lý. Nồng độ cortisol cao có thể gây bao tay mạn tính, có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe đột biến. Hormone này cũng dự vào việc điều hòa huyết áp, chuyển hóa glucose hiệp, chức năng miễn dịch và chống viêm. Vào những năm 1930, Edward Kendall tiết lậu rằng cortisol, giống như DHEA, nằm ở tuyến thượng thận với sáu loại hormone phổ thông khác trong thân thể.

3. Epinephrine

  • Công thức phân tử: C9 H13 NO3
  • M: 183.204 g/mol
  • Điểm nóng chảy: không rõ
Cấu trúc của Epinephrine

Epinephrine thường được sinh sản bởi cả tuyến thượng thận và một số tế bào tâm thần. Chất này đóng một vai trò quan yếu trong phản ứng chiến hay chạy bằng cách tăng lưu lượng máu đến cơ bắp, đầu ra của tim, sự giãn nở tuỳ nhi và lượng đường trong máu. Epinephrine thực hành điều này bằng các tác dụng của nó đối với các thụ thể alpha và beta. Chất này được tìm thấy ở nhiều loài động vật và một số sinh vật đơn bào.

Phản ứng của thân khi stress

Phản ứng bao tay bắt đầu trong não. Khi ai đó đối mặt với một chiếc xe sắp tới hoặc hiểm khác, mắt hoặc tai (hoặc cả hai) gửi thông báo đến amygdala , một khu vực của não góp phần xử lý xúc cảm. Amygdala diễn giải những hình ảnh và âm thanh. Khi nhận thấy hiểm, nó ngay thức thì gửi tín hiệu thống khổ đến vùng dưới đồi.

Vùng dưới đồi hơi giống một trung tâm chỉ huy. Vùng não này giao tiếp với phần còn lại của thân thể ưng chuẩn hệ thống thần kinh tự chủ, điều khiển các chức năng cơ thể không tình nguyện như thở, huyết áp, nhịp tim và sự giãn nở hoặc co thắt của các mạch máu chính và đường dẫn khí nhỏ trong phổi gọi là phế quản.

Hệ thống tâm thần tự chủ có hai thành phần là hệ thống thần kinh giao cảm và hệ thống tâm thần phó giao cảm. Hệ thống thần kinh giao cảm có chức năng như bàn đạp ga trong xe hơi. Nó kích hoạt phản ứng đấu tranh hoặc chạy, cung cấp cho thân một luồng năng lượng để nó có thể đáp ứng với những nguy hiểm nhận thức được. Trong khi đó, hệ thống thần kinh phó giao cảm hoạt động như một cái phanh. Nó xúc tiến phản ứng “nghỉ ngơi và tiêu hóa” làm dịu cơ thể xuống sau khi hiểm đã qua.

Sau khi amygdala gửi tín hiệu khổ đau, vùng dưới đồi kích hoạt hệ thống thần kinh giao cảm bằng cách gửi tín hiệu qua các dây thần kinh tự chủ đến tuyến thượng thận. Các tuyến này phản ứng bằng cách bơm hormone epinephrine (còn được gọi là adrenaline) vào máu. Khi epinephrine lưu thông trong cơ thể, nó mang lại một số thay đổi về sinh lý. Tim đập nhanh hơn bình thường, đẩy máu đến các cơ, tim và các cơ quan quan yếu khác. Nhịp tim và áp huyết tăng lên. Người qua những thay đổi này cũng bắt đầu thở nhanh hơn. Đường dẫn khí nhỏ trong phổi mở rộng.

Bằng cách này, phổi có thể lấy càng nhiều oxy càng tốt với mỗi hơi thở. Oxy bổ sung được gửi đến não, tăng sự tỉnh ngủ. Thị giác, thính giác và các giác quan khác trở thành sắc nét hơn. Trong khi đó, epinephrine kích hoạt phóng thích đường trong máu (glucose) và chất béo từ các vị trí lưu trữ tạm trong thân. Những chất dinh dưỡng này tràn vào máu, cung cấp năng lượng cho hết thảy các bộ phận của cơ thể.

tất tật những đổi thay này xảy ra nhanh đến mức mọi người không biết về chúng. Trên thực tại, hệ thống dây điện hiệu quả đến mức amygdala và vùng dưới đồi bắt đầu dòng thác này ngay cả trước khi các trọng điểm thị giác của não có dịp xử lý đầy đủ những gì đang xảy ra. Đó là lý do tại sao mọi người có thể nhảy ra khỏi con đường của một chiếc xe sắp tới ngay cả trước khi họ nghĩ về những gì họ đang làm.

Khi sự gia tăng ban sơ của epinephrine lắng xuống, vùng dưới đồi kích hoạt thành phần thứ hai của hệ thống phản ứng bít tất tay – được gọi là trục HPA. màng lưới này bao gồm vùng dưới đồi, tuyến yên và tuyến thượng thận.

Trục HPA dựa vào một loạt các tín hiệu nội tiết tố để giữ cho hệ thống tâm thần giao cảm – “bàn đạp ga” – nhấn xuống. Nếu não nối nhận thấy thứ gì đó nguy hiểm, vùng dưới đồi sẽ tiết ra hormone giải phóng corticotropin (CRH), đi đến tuyến yên, kích hoạt giải phóng hormone tuyến thượng thận (ACTH). Hormone này đi đến tuyến thượng thận, khiến chúng giải phóng cortisol. thân thể do đó được nâng lên và cảnh giác cao độ. Khi mối đe dọa qua đi, nồng độ cortisol giảm. Hệ thống thần kinh phó giao cảm – “phanh” – sau đó làm giảm phản ứng căng thẳng.

Một số cách để giảm stress

1. Thư giãn

Tiến sĩ Herbert Benson, giám đốc danh dự của Viện y khoa Tâm thể Benson-Henry tại Bệnh viện Đa khoa Massachusetts, đã dành đa số sự nghiệp của ông để tìm hiểu làm thế nào mọi người có thể chống lại phản ứng bao tay bằng cách sử dụng phối hợp các phương pháp tiếp cận gợi ra phản ứng thư giãn. Chúng bao gồm thở bụng sâu, giao hội vào một từ nhẹ nhàng (như hòa bình hoặc tĩnh tâm), mường tưởng ra những cảnh yên tĩnh, nguyện cầu lặp đi lặp lại, yoga và thái cực quyền.

Hầu hết các nghiên cứu sử dụng các biện pháp khách quan để đánh giá chừng độ hiệu quả của phản ứng thư giãn trong việc chống lại bít tất tay kinh niên, đã được thực hành ở những người bị tăng áp huyết và các dạng bệnh tim khác. Những kết quả đó cho thấy kỹ thuật này có thể đáng để thử – dù rằng đối với hồ hết mọi người, nó không phải là thuốc chữa bệnh.

2. Hoạt động thể chất

Mọi người có thể dùng tập thể dục để kìm hãm sự tàng trữ găng theo nhiều cách. Tập thể dục, chẳng hạn như đi bộ nhanh trong thời kì ngắn sau khi cảm thấy găng tay, không chỉ giúp thở sâu mà còn giúp giảm căng cơ. Các liệu pháp vận động như yoga, thái cực quyền và khí công phối hợp các động tác nhẹ nhàng với hơi thở sâu và sự tụ hợp ý thức, quờ đều có thể tạo ra sự tĩnh tâm.

3. giao dịch tầng lớp

Những người bạn tâm tư, bạn bè, người quen, đồng nghiệp, họ hàng, vợ / chồng và bạn đồng hành đều cung cấp một mạng từng lớp nâng cao cuộc sống – và có thể làm tăng tuổi thọ. Không rõ tại sao, nhưng lý thuyết đệm cho rằng những người thích mối quan hệ thân thiết với gia đình và bạn bè nhận được sự tương trợ về mặt xúc cảm, gián tiếp giúp họ duy trì trong những lúc găng tay và khủng hoảng kinh niên.

Bài viết đến đây là hết rồi. nhóng sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong mai sau. Lần sau nếu ai có hỏi về stress thì hãy nhớ về hóa học đằng sau nó nhé!

Tham khảo Wholehealthchicago , Chemistryislife , Harvard Health Publishing , Collective-evolution , C&EN Experiencelife .

để ý: thông báo về stress và một số cách giảm stress trong bài viết này chỉ mang tính chất tham khảo và không dùng để thay thế cho lời khuyên y tế trực tiếp từ thầy thuốc. nên chi hãy hỏi ý kiến thầy thuốc hoặc chuyên gia để cho thông báo chuẩn xác hơn trước khi thực hiện. Xin cảm ơn!

Các loại virus đằng sau bệnh cảm lạnh và cúm

Vào thời khắc này, bạn có nhẽ đã nghe rất nhiều thông báo về bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona (nCoV) gây ra. Loại bệnh này khởi hành từ Vũ Hán – Trung Quốc. Tính đến thời điểm của bài viết này thì đã có:

  • 80 người tử vong do viêm đường hô hấp cấp do virus corona, 2.800 ca nhiễm bệnh.
  • Trong đó, 95% ca tử vong và hơn 50% ca nhiễm bệnh ở tỉnh Hồ Bắc.
  • 55 ca nhiễm bệnh viêm đường hô hấp cấp do virus corona bên ngoài Trung Quốc đại lục, bao gồm: Australia (4 ca), Pháp (3 ca), Hong Kong (8 ca), Nhật (4 ca), Macao (5 ca), Malaysia (4 ca), Nepal (1 ca), Singapore (4 ca), Hàn Quốc (3 ca), Đài Loan (4 ca), Thái Lan (8 ca), Mỹ (5 ca) và Việt Nam (2 ca).

thông báo là vậy! Nhưng có bao nhiêu bạn đang đọc bài viết này hiểu rõ về các loại virus đằng sau bệnh cảm lạnh và cúm? cho nên trong bài viết này, blog sẽ giúp bạn hiểu sơ lược về những loại virus gây bệnh này nhé!

hồ hết chúng ta sẽ không vượt qua cả mùa đông mà không bị cảm lạnh vào một lúc nào đó. Trung bình, người lớn có từ hai đến năm lần cảm lạnh mỗi năm. trẻ thơ có Trung bình từ bảy đến mười. Hơn 200 loại virus khác nhau có liên tưởng đến cảm lạnh, và những loại này có thể được chia nhỏ gọn hơn thành nhiều họ chính.

Các loại virus gây cảm lạnh chính yếu ở người là rhinovirus hay còn gọi là virus mũi. Virus này không được đặt theo tên của động vật có vú có sừng châu Phi / châu Á, mà từ “rhinos” Hy Lạp, có tức thị “mũi”. Tên này liên tưởng đến thực tiễn là các con rhinovirus sao chép tốt nhất ở nhiệt độ được tìm thấy trong mũi (33-35˚C). Đối với những người tò mò về mặt ngôn ngữ, từ ‘rhinoceros’ cũng có cỗi nguồn từ Hy Lạp, có tức thị ‘sừng mũi’.

Có ba loài rhinovirus ảnh hưởng đến con người là A, B và C; với đường kính 30nm. Trong số này có một số lượng lớn các kiểu huyết thanh hay serotypes khác nhau. Serotypes là những virus khác nhau về protein màng của chúng. Có hơn 150 loại huyết thanh khác nhau của rhinovirus đã được biết đến và tổng thể chúng chiếm 30-50% trong tất cả các trường hợp cảm lạnh.

Virus corona hay coronavirus là họ virus phổ thông nhất tiếp theo sau gây ra cảm lạnh, chiếm 10-15%, với 7 loài được biết đến có ảnh hưởng đến con người và có đường kính 120nm. Chúng đã đứng sau một số trường hợp dịch bệnh cao, bao gồm cả dịch SARS vài năm trước và dịch coronavirus ngày nay ở Trung Quốc .

Các triệu chứng cảm lạnh do coronavirus gây ra có thiên hướng nghiêm trọng hơn so với các triệu chứng gây ra bởi rhinovirus, và chúng cũng có thể gây viêm phổi. Tên của chúng phát xuất từ tiếng Latin cho vương miện, ‘corona’, cho các hình chiếu bề mặt giống như vương miện của chúng.

Một loại virus khác có thể gây ra các triệu chứng nghiêm trọng hơn là virus cúm, chiếm 5-15%, có 3 loài được biết đến có ảnh hưởng đến con người và có đường kính 120nm. Nhiễm virus này thường được gọi là cúm, với các triệu chứng bao gồm sốt. Có 12 loại huyết thanh được biết đến của virus cúm A, loại phổ quát nhất ở người và gây ra dịch cúm hàng năm trên toàn thế giới.

Không giống như hồ hết các loại virus cảm lạnh khác, bạn có thể tiêm ngừa virus cúm. Điều này không thực tại – vì một số loại virus gây cảm lạnh và cúm, và chúng biến đổi mau chóng, rất khó để phát triển một loại vắc-xin có hiệu quả và không thể sinh sản một loại vắc-xin có thể bảo vệ chống lại tất thảy các virus gây cảm lạnh.

Tuy nhiên, do các triệu chứng nghiêm trọng hơn và khả năng gây tử vong ở người già và dễ bị tổn thương, nên tiêm vắc-xin cúm hàng năm. Cụ thể, họ được cung cấp cho các nhóm có nguy cơ.

Hai lần một năm, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chỉ đạo việc sinh sản vắc-xin cúm dựa trên dự đoán các chủng virus có khả năng lưu hành. dù rằng không bảo đảm rằng những người được tiêm phòng sẽ không bị cúm, nhưng hầu hết các năm, nó cung cấp sự bảo vệ tương đối tốt. Việc tiêm phòng chỉ tốt như dự đoán; nếu các chủng trội khác với các dự đoán, vắc-xin có thể kém hiệu quả.

Các chọn lọc điều trị khác cho cảm lạnh là rất ít và xa. Vì cảm lạnh và cúm là do nhiễm virus, kháng sinh, điều trị nhiễm khuẩn, không hiệu quả. Có chứng cớ tối thiểu về hiệu quả của các phương pháp điều trị khác như vitamin C, tỏi và mật ong. Có một số bằng chứng cho thấy viên ngậm kẽm acetate làm giảm thời kì xuất hiện triệu chứng cảm lạnh tới một phần ba nếu chúng được dùng trong vòng 24 giờ kể từ khi xuất hiện triệu chứng.

Chúng ta thậm chí không biết ắt mọi thứ cần biết về virus gây cảm lạnh và cúm. Ngoài các loại virus mà chúng ta đã gặp, một số loại khác có thể gây cảm lạnh. Virus hợp bào hô hấp (5%), virus parainfluenza (5%), adenovirus (<5%), enterovirus (<5%) và metapneumovirus (?%) đều là những loại khác.

Ngoài ra, trong 20-30% cảm lạnh, virus gây ra nó không thể được xác định. Trong các trường hợp, nó có thể là một loại virus đã biết, nhưng các loại khác có thể là virus gây cảm lạnh chưa được phát hiện.

Trong hồ hết các trường hợp, nếu bạn bị cảm lạnh, bạn chỉ bị nhiễm một trong những loại virus mà chúng ta đã đề cập ở đây. Tuy nhiên, trong khoảng 5% trường hợp, những người bị cảm lạnh bị nhiễm cùng lúc nhiều loại virus. Không phải lúc nào bạn cũng có thể biết mình đã nhiễm loại virus nào, vì các tùy chọn điều trị (hoặc thiếu) là giống nhau, do đó không đặc biệt hữu ích để xác định.

Tuy nhiên, có một số điều bạn có thể làm để giảm các triệu chứng – và hóa học có thể giúp đỡ, bạn có thể tham khảo thêm bài viết tại đây .

Bài viết đến đây là hết rồi. nhìn sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong mai sau. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Compound Interest , C&EN , NCBI , Scientificamerican Zing .

Phương pháp kiểm tra coronavirus làm việc như thế nào?

Tại thời điểm viết bài này, đã có hơn một phần ba triệu trường hợp được công nhận COVID-19 trên toàn thế giới. Số người chết đang lên tới hơn 14.000. thành ra việc chay đua theo thời gian để cho ra kết quả xét nghiệm là cuộc cạnh tranh giữa phòng thí điểm của các nhà nước. Nhưng các xét nghiệm này được thực hành ra sao và chúng hoạt động như thế nào thì không phải ai cũng hiểu?

do vậy, trong bài viết này blog sẽ giúp cho các bạn hiểu rõ hơn về phương pháp rà soát coronavirus và cách hoạt động của nó ra sao nhé!

Đôi nét

Các xét nghiệm hiện đang được sử dụng để xác định nhiễm coronavirus được gọi là xét nghiệm PCR. PCR là viết tắt của “phản ứng chuỗi polymerase”, và đây không phải là phương pháp xét nghiệm mới – xét nghiệm PCR đã được dùng từ những năm 1980 và có một loạt các vận dụng bao gồm chẩn đoán bệnh lây nhiễm. Các xét nghiệm cho phép sao chép một lượng nhỏ DNA hàng triệu lần để có đủ phát hiện và công nhận nhiễm trùng.

Cách lấy mẫu

rà virus cần một mẫu. trước nhất, một miếng gạc hoặc tăm bông được đem lấy mẫu, thường là từ mũi của bệnh nhân hoặc phía sau cổ họng của họ. Gạc sau đó được đặt trong một thùng chứa an toàn và gửi đến phòng thể nghiệm để phân tích thêm. phân tách cần phải diễn ra trong vòng một đôi ngày kể từ khi mẫu được lấy.

DNA tạo nên vật liệu di truyền của chúng ta và của một số loại virus. Nhưng virus gây ra COVID-19, SARS-CoV-19, không chứa DNA chuỗi kép, mà là RNA chuỗi đơn. Vì các xét nghiệm PCR chỉ có thể tạo bản sao DNA, đầu tiên chúng ta cần chuyển đổi RNA thành DNA.

Phương pháp thực hành

RNA virus được ly trích từ ​​mẫu tăm bông. Sau đó, nó cần phải được tinh luyện từ các tế bào người và các enzyme có thể can thiệp vào xét nghiệm PCR. thường nhật, các phòng thí nghiệm sử dụng bộ công cụ được sản xuất bởi các nhà cung cấp hóa chất đặc biệt cho mục đích này để làm điều này.

RNA tinh khiết được trộn với một enzyme gọi là enzyme phiên mã ngược (reverse transcriptase). Enzyme này chuyển đổi RNA chuỗi đơn thành DNA chuỗi kép để nó có thể được sử dụng trong xét nghiệm PCR.

DNA virus sau đó được thêm vào ống nghiệm và tiếp chuyện được thêm vào:

  • Các đoạn mồi: đây là những đoạn DNA ngắn được thiết kế để liên kết với các phần đặc trưng của DNA virus. Do đó, chúng sẽ không kết liên với DNA không phải từ virus.
  • Nucleotide: đây là những khối xây dựng hay sườn tạo nên DNA.
  • Một enzyme DNA-building: điều này tạo ra các bản sao của DNA.

Một máy PCR làm nóng hổ lốn. Điều này làm cho DNA sợi kép tách ra và sau đó mồi có thể liên kết với DNA khi nó nguội đi. Một khi các mồi đã kết liên với DNA, chúng cung cấp một điểm khởi đầu cho enzyme DNA-building để giúp sao chép nó. Quá trình này tiếp chuyện phê duyệt việc làm nóng và làm lạnh lặp đi lặp lại cho đến khi hàng triệu bản sao DNA được tạo ra.

Cách phát hiện virus

Phương pháp đề cập ở trên giải thích cách PCR khuếch đại mã di truyền của virus, nhưng không phải là cách nó được phát hiện. Đây là nơi thuốc nhuộm huỳnh quang đi vào. Các loại thuốc nhuộm này được thêm vào ống thử trong khi DNA đang được sao chép.

Sau đó, chúng kết liên với DNA được sao chép, giúp tăng cường huỳnh quang, khiến chúng phát ra nhiều ánh sáng hơn. Đây là ánh sáng cho phép chúng ta xác nhận sự hiện diện của virus.

Sự phát huỳnh quang tăng lên khi nhiều bản sao DNA virus được tạo ra. Nếu huỳnh quang vượt qua một ngưỡng nhất quyết, đặt trên mức nền dự định, thể nghiệm là dương tính. Nếu virus không có trong mẫu, xét nghiệm PCR sẽ không tạo ra các bản sao, bởi vậy ngưỡng huỳnh quang không đạt được – thí điểm là âm tính.

một đôi sự hạn chế

Mặc dù nghe có vẻ phức tạp, xét nghiệm PCR là một cách rà khá đáng tin tức đối với các bệnh lây, đó là lý do vì sao chúng được dùng rộng rãi để rà COVID-19. Tuy nhiên, một số quốc gia đã gặp phải vấn đề khi vắt mở mang khả năng thử nghiệm của họ.

Một lý do cho điều này chỉ đơn giản là thực tại là bài soát mất thời gian. Có thể mất vài giờ để có kết quả; phối hợp điều này với khả năng thể nghiệm trong phòng thí điểm và nó đặt ra giới hạn về số lượng thử nghiệm mà một phòng thí nghiệm có thể thực hành trong một ngày.

Một phòng thí nghiệm nghiên cứu nhỏ có thể có thể chạy khoảng 80 bài soát mỗi ngày; các phòng thử nghiệm lớn hơn nhiều với nhiều máy có thể chạy trong khoảng 1000-2000.

Một hạn chế khác là sự sẵn có của thuốc thử cấp thiết để chạy thể nghiệm. Do nhu cầu toàn cầu về các thử nghiệm này sau đại dịch đã dẫn đến sự thiếu hụt, hạn chế số lượng thí nghiệm được thực hiện.

Trong một số trường hợp, các xét nghiệm không hoạt động như dự định. Các xét nghiệm ban đầu được cung cấp để chẩn đoán ở Hoa Kỳ bao gồm các bộ mồi khác nhau cho các mục đích khác nhau.

Điều này bao gồm một trong đó nhắm đích một chuỗi di truyền được tìm thấy trong tuốt các coronavirus như một hình thức thẩm tra kiểm soát. Phần rà soát này không hoạt động xác thực; trong khi nó không ngăn họ sử dụng được, nó gây ra sự lầm lẫn về việc liệu kết quả có khả quan hay không, làm chậm chẩn đoán.

Ô nhiễm hoặc suy thoái cũng có thể gây ra vấn đề. Những điều này có thể dẫn đến dương tính giả (khi ai đó không có virus nhưng xét nghiệm cho biết họ làm) hoặc âm tính giả (khi ai đó có virusnhưng xét nghiệm cho biết họ không có virus).

Một hạn chế lớn rốt cục của loại thể nghiệm này là nó chỉ có thể cho bạn biết nếu ai đó có virus tại thời khắc thử nghiệm. Nó không thể cho chúng ta biết họ đã bị nhiễm virus hay chưa nhưng sau đó đã phục hồi trước khi thử nghiệm. Điều này khá bổ ích để biết, vì nếu ai đó bị nhiễm virus và đã hồi phục, họ sẽ miễn nhiễm với việc bắt lại nó (chí ít là trong một thời kì).

tương lai…

Một loại xét nghiệm có thể cho chúng ta biết liệu ai đó đã từng nhiễm virus trước đó là xét nghiệm dựa trên kháng thể. thân thể bạn sản xuất kháng thể để chống lại nhiễm trùng. Những kháng thể này tồn tại trong máu của bạn trong một thời kì sau khi bị nhiễm trùng và các xét nghiệm có thể phát hiện ra chúng.

ngày nay, một số công ty đang nghiên cứu xét nghiệm kháng thể đối với virus SARS-CoV-2 và dự định ​​rằng chúng sẽ được khai triển mau chóng sau khi chúng có sẵn.

Có những thể nghiệm khác cũng có thể hữu ích. Một loại khác từng các protein cụ thể trên bề mặt của virus. Chúng nhanh hơn xét nghiệm PCR, nhưng cũng kém nhạy hơn, do đó có nhiều khả năng cho kết quả không xác thực.

Tổ chức Y tế Thế giới đã nhấn mạnh tầm quan yếu của xét nghiệm như là một phần của phản ứng trên toàn thế giới đối với đại dịch COVID-19. Có sự thay đổi đáng kể về số lượng thể nghiệm được thực hành ở các nhà nước khác nhau. Trung Quốc và Hàn Quốc đều đã chạy khoảng 300.000 bài rà soát, trong khi Vương quốc Anh và Hoa Kỳ chỉ chạy 50.000 và 40.000 tương ứng.

thử nghiệm ít hơn có tức là khó theo dõi sự lây lan của nhiễm trùng và cách ly và theo dõi các xúc tiếp của người bị nhiễm bệnh.

Lời khuyên cho bạn

Cho đến khi khả năng rà soát tăng lên và nhiều loại xét nghiệm trở thành khả dụng, các nhà nước đang khuyên công dân của họ nên tự cách ly nếu họ nghĩ rằng họ có thể có các triệu chứng của virus.

Một số người chỉ có thể biết vững chắc rằng họ đã nhiễm virus một khi đã có xét nghiệm kháng thể, nhưng làm theo lời khuyên này và rằng cách xa xã hội là cách tốt nhất để ngăn chặn sự lây lan của nó.

Hãy nhớ rằng, dù rằng bạn có thể không thuộc một trong những nhóm có nguy cơ bị biến chứng nghiêm trọng hoặc tử vong do virus, hành động của bạn có thể khiến bạn không truyền nó cho người khác. Và thực thụ, ở trong nhà của bạn trong một đôi tuần chừng như là một cái giá nhỏ phải trả để cứu một cuộc sống.

Bài viết đến đây là hết rồi. coi sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong mai sau. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau nó nhé!

Tham khảo Zing , Wired , The bumbling biochemist , Compound Interest , và Ourworldindata .

Làm thế nào để loại bỏ coronavirus?

Làm thế nào để bạn đấu tranh một cái gì đó bạn chẳng thể nhìn thấy? Đó là câu hỏi khi nói đến cuộc khủng hoảng coronavirus hiện đang có, làm cho nhiều người trong chúng ta phải cách ly tại nhà. Khoảng cách vật lý là một câu giải đáp quan trọng để ngăn chặn sự lây lan của vi rút, vì việc tránh xúc tiếp ngăn bạn lây lan sang người khác. Nhưng làm thế nào chúng ta có thể chống chọi trực tiếp với virus?

Đôi nét

trước nhất có lẽ bạn đã biết vi rút này được gọi là “coronavirus mới” hay có tên tiếng Anh là “ novel coronavirus “. Đó chỉ là một cách khác để nói rằng đây là một loại coronavirus mà chúng ta chưa từng thấy ở người trước đây. Các coronavirus thực sự là một họ vi rút lớn, và một trong số chúng gây ra các triệu chứng mà chúng ta gọi là cảm lạnh thường nhật. Trong đó, SARS-CoV-2 là thành viên đặc biệt của gia đình này gây ra dịch bệnh này.

Phương thức lây chính của coronavirus là từ người sang người khi họ xúc tiếp gần với nhau. Các tiếp xúc gần này có thể diễn ra dưới hình thức một cái ôm, một cái bắt tay hoặc bị kẹt trong một không gian công cộng đông đúc – nơi mà người mắc SARS-CoV-2 có thể lây bệnh bằng giọt bắn phê duyệt những cú hắt xì hay ho.

Thế nhưng vì các giọt bắn này khá nặng, chúng sẽ dễ dàng rơi xuống các bề mặt. Chúng có thể tồn tại trên những bề mặt này đủ lâu cho tới khi có người chạm tay vào và đưa virus lên mắt, mũi và miệng của mình.

Dù sao, vì đó là một loại vi rút mới, chúng ta không có vắc-xin cho nó và việc chế tác vắc-xin có thiên hướng mất một khoảng thời kì. Đây là lý do tại sao việc ngăn chặn căn bệnh này lây lan chóng vánh và áp đảo các bệnh viện hiện đang là chọn lọc tốt nhất của chúng ta.

Để hiểu cách thức hoạt động của chúng, thật hữu dụng khi biết về cấu trúc của loại virus đặc biệt này. SARS-CoV-2 là một loại virus có màng bao bọc (enveloped virus). Điều này có nghĩa là nó có một lớp bên ngoài bao xung quanh vật liệu di truyền của nó. Lớp bên ngoài được làm từ các phân tử chất béo và là một trong những mục tiêu có thể để xoá sổ vi rút. Chúng ta cũng có thể nhắm mục tiêu các protein trong lớp này, hoặc thậm chí cả vật liệu di truyền.

Rửa tay trong 20 giây

Bên ngoài thân, có nhiều cách để chúng ta xoá sổ vi rút và giảm thời cơ truyền nhiễm vi rút. “Rửa tay trong 20 giây” là câu thần chú mà bạn đã nghe nói nhiều lần trong tháng qua. Đó là vì đây là cách tốt nhất để xoá sổ vi rút. Xà phòng chứa các phân tử được gọi là chất hoạt động bề mặt, có hai đầu: một đầu hòa tan rất tốt trong chất béo (kị nước), trong khi đầu còn lại hòa tan rất tốt trong nước (ưa nước). Khi các phân tử này xúc tiếp với lớp chất béo bên ngoài của SARS-CoV-2, chúng sẽ hòa tan nó và xé virus ra.

Cách xà phòng tiêu diệt virus (Đồ họa: Jonathan Corum và Ferris Jabr, Việt hóa: CafeF)

Khi bạn rửa tay với xà phòng và nước, mọi vi sinh vật trên tay bạn đều bị “vây hãm” bởi các phân tử xà phòng. Đuôi kỵ nước của các phân tử xà phòng đang trôi nổi tự do này sẽ nỗ lực tránh xa nước và trong quá trình đó, chúng sẽ va vào các màng lipid của virus và phá hủy virus.

vơ các loại xà phòng đều chứa các phân tử chất hoạt động bề mặt này, thành thử việc bạn sử dụng loại nào đích thực không quan trọng. Một số loại xà phòng có chứa các thành phần kháng khuẩn bổ sung, nhưng chúng có hoạt tính chống lại vi khuẩn (tôi đoán vậy), bởi thế chúng không ảnh hưởng đến vi rút. nên chi, các phân tử chất hoạt động bề mặt mà xà phòng chứa vẫn là thành phần hoạt chất chính.

Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu hơn về hóa học của xà phòng và chất hoạt động bề mặt thì bạn có thể tham khảo một bài viết khác ráo tại đây nhé! Xà phòng và nước không chỉ tốt cho tay của bạn – nó cũng hiệu quả trong việc làm sạch bề mặt, thành thử bạn không cần phải hấp tấp và mua bất kỳ chất tẩy rửa bề mặt ưa chuộng nào.

thành thử xà phòng thật là tuyệt! Nhưng nếu bạn không thể rửa tay ngay thức thì thì sao? Nếu bạn đang đến siêu thị để mua sắm thực phẩm, có nhẽ bạn sẽ không dễ dàng tiếp cận với xà phòng và bồn rửa. Đây là nơi mà các chất tiệt trùng tay, gel hay nước rửa tay khô hữu dụng – giả tỉ bạn đã có được một số trước khi nó hình như khan hiếm ở khắp mọi nơi.

Nước rửa tay khô

trước tiên, điều quan trọng cần lưu ý là nước rửa tay khô không phải là tuốt luốt được tạo ra giống nhau. Nước rửa tay khô chứa cồn là loại mà bạn muốn. Có những loại nước rửa tay khô không chứa cồn, nhưng những chất này được chứng minh là kém hiệu quả hơn đối với vi-rút. Mặt khác, các chất diệt trùng có cồn, có hiệu quả chống lại nhiều loại vi rút, bao gồm cả SARS-CoV-2.

Một điểm khác là chúng cần chứa ít nhất 60% cồn. Nếu bạn đang dùng nó để làm sạch các bề mặt, trọng điểm kiểm soát và ngừa dịch bệnh Mỹ (gọi tắt là CDC) khuyến nghị rằng cần có nồng độ cồn tối thiểu 70%. Các phân tử rượu đang thực hành công việc bẩn thỉu ở đây – chúng làm hỏng cấu trúc của protein vi rút, xoá sổ vi rút. ngoại giả, chúng cũng hòa tan lớp chất béo bên ngoài của vi rút. Bạn có thể tham khảo thêm bại viết khác tại đây nhé!

Rửa tay bằng xà phòng và nước rửa tay khô có cồn là những lựa chọn tốt nhất để tiêu diệt bất kỳ dấu tích vi rút nào trên tay bạn. Đối với các bề mặt cứng, bạn cũng có một vài tùy chọn khác hoạt động theo cách tương tự chống lại vi rút.

Làm sạch bề mặt cứng

Một giải pháp tẩy rất hiệu quả trong việc làm sạch các bề mặt cứng. CDC giải thích cách tạo ra dung dịch 0,1% từ thuốc tẩy gia dụng trên trang web của họ . Bleach (chất tẩy trắng) phản ứng với và phá hủy protein vi rút và vật liệu di truyền vi rút. Điều quan trọng là phải xịt nó lên bề mặt và sau đó để nó hoạt động trong khoảng 10 phút để đạt hiệu quả tối đa.

Điều quan yếu là không trộn chất tẩy với các chất gột rửa khác. Dù sao cũng không cấp thiết, vì nó tự làm một công việc rất hiệu quả. Và nếu bạn làm thế, sẽ có nguy cơ chất tẩy rửa phản ứng với chất tẩy trắng và tạo ra khí clo độc hại. Chúng ta đang cố gắng để diệt virus ở đây, không phải bạn.

Tối thiểu 0,5% dung dịch hydro peroxide cũng có hiệu quả chống lại vi rút. Nó hoạt động theo cách hao hao như thuốc tẩy clo, phản ứng và phá hủy protein của vi rút và vật liệu di truyền. na ná, nó nên được để lại cho đến mười phút. Bạn cũng không nên trộn lẫn với các chất gột rửa khác, đặc biệt là những chất có chứa giấm. Giấm và hydro peroxide tạo ra axit peracetic ăn mòn, và trong khi nó cũng được dùng trong một số chất gột rửa, không nên tự trộn lẫn nó như thế này.

Thật sự thì các tùy chọn thuốc tẩy và peroxide là quá mức cấp thiết. Xà phòng và nước sẽ làm một công việc hiệu quả trên bất kỳ bề mặt nào bạn có thể làm sạch với chúng. Xà phòng cũng ít nguy hiểm hơn khi làm việc và có thể dễ dàng dùng để thẳng thớm làm sạch các bề mặt bạn chạm vào liền.

từ khước nghĩa vụ

Với toàn bộ những gì đã nói ở trên, đây là thời khắc Từ chối bổn phận. Bạn có thể rửa tay cứ năm phút một lần và lau chùi các bề mặt trong nhà bạn. Nó vẫn không bảo đảm bạn sẽ không nhiễm vi rút. Những gì chúng ta đang cố gắng làm ở đây là giảm rủi ro bạn dính phải nó, nhưng rất khó để giảm rủi ro đó xuống không.

Nhưng bên ngoài khoảng cách vật lý, bạn hãy hy vọng rằng việc tập tành, rửa tay và làm sạch bề mặt là hành động trực tiếp tốt nhất chúng ta có thể thực hiện để ngăn chặn vi rút lây lan. Bằng cách đó, chúng ta sẽ giảm bớt gánh nặng cho các dịch vụ y tế của mình và hy vọng sẽ giúp cứu sống.

Bài viết đến đây là hết rồi. mong sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong tương lai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Compound Interest , Báo Dân Sinh , HaNoiTV , WHO , The Conversation .

Virus là gì?

Virus là gì? Đây có lẽ là câu hỏi được quan tâm nhiều nhất vào thời khắc ngày nay khi dịch Covid-19 đang diễn ra. Nhưng để hiểu rõ và trả lời cho câu hỏi này thì không phải ai cũng hiểu đặc biệt như tôi. thành thử để trang bị kiến thức cho bản thân, tôi đã tìm hiểu căn bản về virus. Các bạn hãy theo tôi từng bước phân tách về chúng nhé!

Đôi nét

Các nhà khoa học từ lâu đã tìm cách khám phá ra cấu trúc và chức năng của virus. Virus là duy nhất ở chỗ chúng đã được phân loại cả dạng sống và không sống ở nhiều điểm khác nhau trong lịch sử sinh học. Virus không phải là tế bào mà là những hạt không sống, truyền nhiễm. Chúng có khả năng gây ra một số bệnh, bao gồm ung thư, ở nhiều loại sinh vật khác nhau.

Các mầm bệnh virus không chỉ truyền nhiễm cho người và động vật, mà còn cả thực vật, vi khuẩn, sinh vật nguyên sinh và vi khuẩn cổ. Những hạt cực nhỏ này nhỏ hơn vi khuẩn khoảng 1000 lần và có thể tìm thấy ở hầu hết mọi môi trường. Virus không thể tồn tại độc lập với các sinh vật khác vì chúng phải chiếm lấy một tế bào sống để sinh sản.

Cấu trúc của virus

Cấu trúc chung của virus gây bệnh

Một hạt virus, còn được gọi là virion, về cơ bản là axit nucleic (DNA hoặc RNA) được bao bọc hoặc phủ trong vỏ protein. Virus cực kỳ nhỏ, đường kính khoảng 20 – 400 nanomet. Loại virus lớn nhất, được biết đến với tên gọi MimVD, có thể đo đường kính lên tới 500 nanomet. Trong khi đó, một tế bào hồng huyết cầu của con người có đường kính khoảng 6000 đến 8000 nanomet.

Ngoài các kích cỡ khác nhau, virus cũng có nhiều hình trạng khác nhau. Tương tự như vi khuẩn, một số virus có hình dạng hình cầu hoặc hình que. Các virus khác là icosahedral (khối đa diện có 20 mặt) hoặc hình xoắn ốc. hình dạng virus được xác định bởi lớp vỏ protein bao bọc và bảo vệ bộ gen của virus.

vật liệu di truyền của virus

Virus có thể có DNA chuỗi kép, RNA chuỗi kép, DNA chuỗi đơn hoặc RNA chuỗi đơn. Loại nguyên liệu di truyền được tìm thấy trong một loại virus cụ thể phụ thuộc vào thực chất và chức năng của loại virus cụ thể.

Các vật liệu di truyền thường không được tiếp xúc nhưng được phủ bởi một lớp vỏ protein được gọi là capsid. Bộ gen của virus có thể bao gồm một số lượng gen rất nhỏ hoặc lên đến hàng trăm gen tùy thuộc vào loại virus. Lưu ý rằng bộ gen thường được tổ chức dưới dạng một phân tử dài thường thẳng hoặc tròn.

Vỏ capsid của virus

Lớp vỏ protein chứa vật liệu di truyền của virus được gọi là capsid. Một capsid bao gồm các tiểu đơn vị protein được gọi là capsome. Capsid có thể có một số dạng hình như: đa diện, hình que hoặc dạng phức hợp. Capsid có chức năng bảo vệ nguyên liệu di truyền virus khỏi bị hư hại.

Ngoài lớp vỏ protein, một số virus có cấu trúc chuyên biệt. thí dụ, virus cúm có vỏ bọc giống như màng bao quanh capsid của nó. Những virus này được gọi là virus bao bọc. Màng bọc này có cả tế bào chủ và các thành phần virus để tương trợ virus lây truyền vào vật chủ của nó. Bổ sung capsid cũng được tìm thấy trong vi khuẩn. Ví dụ, vi khuẩn có thể có “đuôi” protein gắn vào capsid được sử dụng để lây vi khuẩn chủ.

Sao chép virus

Virus không có khả năng tự sao chép gen của chúng. Chúng phải dựa vào một tế bào chủ để sản xuất. Để sự nhân lên của virus xảy ra, trước tiên virus phải lây nhiễm vào tế bào chủ.

Virus tiêm nguyên liệu di truyền của nó vào tế bào và sử dụng các bào quan của tế bào để sao chép. Khi một số lượng virus đủ đã được sao chép, các virus mới được hình thành sẽ phá vỡ tế bào chủ và chuyển sang lây nhiễm các tế bào khác. Loại sao chép virus này được gọi là chu trình tan (lytic cycle).

Một số virus có thể sao chép theo chu trình tiềm tan (lysogenic cycle). Trong quá trình này, DNA virus được đưa vào DNA của tế bào chủ. Tại thời điểm này, bộ gen của virus được biết đến như một prophage và đi vào thể không hoạt động. Bộ gen prophage được sao chép cùng với bộ gen của vi khuẩn khi vi khuẩn phân chia và được truyền dọc theo từng tế bào con của vi khuẩn.

Khi được kích hoạt bằng cách thay đổi các điều kiện môi trường, DNA prophage có thể trở nên tan (lytic) và bắt đầu sao chép các thành phần virus trong tế bào chủ. Các virus không được bao bọc được phóng thích khỏi tế bào bằng cách ly giải hoặc exocytosis . Mảng bọc virus thường được phóng thích bằng cách nảy chồi hoặc mọc mằm.

Exocytosis là quá trình chuyển di các vật liệu từ bên trong một tế bào ra bên ngoài tế bào.

Prophage là một bộ gen của vi khuẩn được đưa vào và tích hợp vào thể nhiễm sắc DNA của vi khuẩn.

Bệnh do virus

Virus gây ra một số bệnh trong các sinh vật mà chúng lây nhiễm. Nhiễm trùng ở người và các bệnh do virus gây ra bao gồm sốt Ebola, thủy đậu, sởi, cúm, HIV/AIDS và herpes.

Vắc-xin đã có hiệu quả trong việc ngăn ngừa một số loại nhiễm virus, chả hạn như thủy đậu nhỏ ở người. Chúng hoạt động bằng cách giúp thân thể xây dựng phản ứng của hệ miễn dịch chống lại các loại virus cụ thể.

Các bệnh do virus gây ảnh hưởng đến động vật bao gồm bệnh dại, bệnh lở mồm long móng, cúm gia cầm và cúm lợn. Các bệnh thực vật bao gồm bệnh khảm, đốm vòng, xoăn lá và bệnh cuốn lá. Virus được gọi là vi khuẩn gây bệnh ở vi khuẩn và vi khuẩn cổ.

Bài viết đến đây là hết rồi. coi sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong ngày mai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Thoughtco và tổng hợp.

Hóa học đằng sau sữa không đường lactose

Nếu bạn tránh các sản phẩm sữa thường nhật vì không dung nạp đường sữa , bạn có thể chuyển sang loại không có đường sữa và các sản phẩm từ sữa khác. Bạn đã bao giờ tự hỏi không dung nạp đường sữa có tức thị gì hoặc làm thế nào hóa chất này được loại bỏ khỏi sữa không? Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn về loại sữa này nhé!

Không dung nạp lactose

Không dung nạp lactose không gây dị ứng với sữa. Điều đó có tức là thân thể thiếu lượng enzyme tiêu hóa lactase, cần thiết để phá vỡ đường sữa. bởi vậy, nếu bạn bị chứng không dung nạp đường sữa và uống sữa thẳng tính, đường sữa sẽ đi qua đường tiêu hóa của bạn và không thay đổi.

Trong khi thân thể bạn chẳng thể tiêu hóa được đường sữa, vi khuẩn đường ruột có thể sử dụng nó, nó giải phóng axit lactic và khí như sản phẩm của phản ứng. Điều này dẫn đến đầy hơi và đau bụng khó chịu.

Đôi nét

Tổng cộng có 65% dân số loài người hiện thời mắc chứng không dung nạp đường sữa (LI): uống sữa động vật khiến họ bị bệnh, với các triệu chứng bao gồm đau bụng và đầy hơi. Đó là mô hình điển hình cho hầu hết các động vật có vú: chúng ngừng khả năng tiêu hóa sữa động vật một khi chúng đã chuyển sang thức ăn rắn.

Sau đây là những ước tính dựa trên lượng mẫu thử khá nhỏ:

  • Đông và Nam Âu: 15 – 54% có enzyme LP
  • Trung và Tây Âu: 62 – 86%
  • Quần đảo Anh và Scandinavia: 89 – 96%
  • Bắc Ấn Độ: 63%
  • Nam Ấn Độ: 23%
  • Đông Á, người Mỹ bản địa: hiếm
  • Châu Phi: một ít, với tỷ lệ cao nhất can hệ đến những người chăn nuôi lạc đà.
  • Trung Đông: một ít, với tỷ lệ cao nhất can hệ đến những người chăn nuôi lạc đà.

Lý do cho sự đổi thay địa lý trong sự tồn tại của lactase có can dự đến nguồn cội của nó. LP được cho là đã nảy sinh do sự thuần hóa của động vật có vú và sự ra đời của sữa.

35% dân số khác có thể tiêu thụ sữa động vật một cách an toàn sau khi cai sữa, tức là họ có sự tồn tại của men lactase (LP) và các nhà khảo cổ học tin rằng đó là một đặc điểm di truyền phát triển từ 7.000.000.000 năm trước trong một số cộng đồng chăn nuôi bò sữa . như Bắc Âu, Đông Phi và Bắc Ấn Độ.

chứng cớ và lý lịch

Sự tồn tại của lactase, khả năng uống sữa khi trưởng thành và ngược lại với việc không dung nạp đường sữa, là một đặc điểm nảy sinh ở người do hậu quả trực tiếp của việc chúng ta thuần hóa các động vật có vú khác.

Lactose là carbohydrate chính (đường disacarit) trong sữa động vật, bao gồm cả con người, bò, cừu, lạc đà, ngựa và chó. Trên thực tế, nếu một sinh vật là động vật có vú, các “bà mẹ” cho sữa và sữa mẹ là nguồn năng lượng chính cho trẻ sơ sinh và toàn bộ các động vật có vú rất trẻ.

Động vật có vú thường chẳng thể xử lý đường sữa ở dạng thường nhật, và do đó, một loại enzyme thiên nhiên có tên là lactase (hoặc lactase-phlorizin-hydrolase, gọi tắt là LPH) có trong thảy các động vật có vú khi sinh. Lactase phá vỡ carbohydrate lactose thành các phần có thể sử dụng (glucose và galactose).

Khi động vật có vú trưởng thành và chuyển đổi từ sữa mẹ sang các loại thức ăn khác (được cai sữa), việc sản xuất lactase sẽ giảm: rốt cuộc, hồ hết các động vật có vú trưởng thành đều không dung nạp được đường sữa.

Tuy nhiên, trong khoảng 35% dân số loài người, enzyme đó tiếp chuyện hoạt động vượt qua thời kỳ cai sữa: những người có enzyme hoạt động khi trưởng thành có thể tiêu thụ sữa động vật một cách an toàn: tính trạng tồn tại của men lactase (LP).

65% dân số khác của con người là không dung nạp đường sữa và chẳng thể uống sữa mà không có tác dụng xấu: đường sữa không tiêu hóa nằm trong ruột non và gây ra chừng độ nghiêm trọng khác nhau của tiêu chảy, đau bụng, đầy hơi và đầy hơi mạn tính.

Lactose được loại bỏ khỏi sữa như thế nào

Có một vài cách để loại bỏ đường sữa ra khỏi sữa. Như bạn đoán, quy trình càng nhiều, hoài sữa bán tại cửa hàng càng cao. Những phương pháp này bao gồm:

  • Thêm enzyme lactase vào sữa, về căn bản là tiêu hóa đường thành glucose và galactose. Sữa thành phẩm vẫn chứa enzyme, do đó nó được siêu lọc để khử hoạt tính của enzyme và kéo dài kì hạn sử dụng của sữa.
  • Truyền sữa qua đường sữa mẹ bị ràng buộc với chất mang. dùng quy trình này, sữa vẫn chứa đường glucose và galactose chứ không phải enzyme.
  • Phân đoạn màng và các kỹ thuật siêu lọc khác tách cơ học đường sữa ra khỏi sữa. Những phương pháp này loại bỏ hoàn toàn đường, giúp bảo quản tốt hơn hương vị “thông thường” của sữa.

vì sao sữa không có lactose lại khác nhau?

Nếu được thêm vào sữa, sữa sẽ bị phân hủy thành glucose và galactose. Sữa không chứa nhiều đường hơn trước, nhưng nó có vị ngọt hơn rất nhiều vì các thụ thể vị giác của bạn cảm nhận glucose và galactose ngọt hơn so với đường sữa. Ngoài việc nếm ngọt hơn, sữa được siêu tinh luyện có vị khác nhau vì nhiệt được thêm vào trong quá trình pha chế.

Cách làm sữa không đường lactose tại nhà

Sữa không đường lactose có giá cao hơn sữa bình thường vì các bước bổ sung cấp thiết để tạo ra nó. Tuy nhiên, bạn có thể kiệm ước phần lớn uổng nếu bạn tự biến sữa bình thường thành sữa không đường. Cách dễ nhất để làm điều này là thêm lactase vào sữa. Lactase dạng lỏng có sẵn tại nhiều cửa hàng hoặc từ các nhà bán lẻ trực tuyến, chả hạn như Amazon.

Lượng đường sữa được loại bỏ khỏi sữa phụ thuộc vào lượng sữa bạn bổ sung và thời kì bạn cho enzyme phản ứng (thường là 24 giờ để hoạt động đầy đủ).

Nếu bạn ít mẫn cảm hơn với tác dụng của đường sữa, bạn không cần phải đợi lâu, hoặc bạn có thể tùng tiệm nhiều tiền hơn và thêm ít đường sữa hơn. Bên cạnh việc kiệm ước tiền, một lợi thế để tự làm sữa không có đường sữa là bạn sẽ không có được hương vị “nấu chín” của sữa siêu tinh chế .

Bài viết đến đây là hết rồi. cầu mong sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong tương lai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Thoughtco , Vinmec tuổi xanh .

Thời Tiết

Lời Dặn Dò

Tỷ Giá

Bài đăng phổ biến