Hóa học của tã lót dùng một lần

nhút nhát là một nhu yếu phẩm cần yếu cho mọi người đặc biệt là cho các mẹ bỉm sữa. Theo số liệu thống kê không chính thức thì năm nghìn là số lần thay tã mà đứa trẻ làng nhàng sẽ cần. Trên thị trường có rất nhiều lựa chọn khác nhau dành cho các bậc bác mẹ, nhưng đại hồi dùng một lần chiếm đa số trong số đó.

Tuy nhiên có một lượng hóa chất tương đối đằng sau để giữ cho các em bé khô ráo. bởi thế trong bài viết này, blog sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về hóa học đằng sau đại hồi dùng một lần nhé!

Đôi nét

nhát dùng một lần hay còn được gọi là tã giấy được dùng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Chúng gồm lớp phủ ngoài, lớp thấm hút, phụ gia hóa học và vật liệu phân hủy sinh vật học. Tã dùng một lần được đánh giá có khả năng thấm hút hơn hẳn và dùng phổ thông hơn tã vải .

Thành phần cấu tạo

Khác với tã vải, tã dùng một lần có cấu tạo gồm 04 thành phần, cụ thể:

  • Lớp phủ ngoài của tã giấy là miếng vải được phủ plastic giúp giữ chất ẩm của lớp lót. Một số sản phẩm cùng loại có thêm chuỗi đàn hồi dệt xung quanh chân tã nhằm hạn chế sự rò rỉ.
  • Lớp thấm hút gồm có cotton và giấy bên trong được chèn thêm các tinh thể siêu thấm.
  • Phụ gia hóa học là các chất hóa học tạo mùi thơm dễ chịu và tạo độ bền cho tã.
  • vật liệu phân hủy sinh vật học giúp tã giấy sau khi bỏ đi sẽ phân hủy thành phân ủ làm bằng vật liệu tái sinh. Chúng có mặt ở bộ phận viền thun chống trào, màng bề mặt và đáy chống thấm ở thân tã.

Hóa học đằng sau

Một số polymer khác nhau tạo nên lúc dùng một lần. Polymer là các phân tử chuỗi dài được hình thành từ nhiều họa tiết nhỏ, lặp đi lặp lại – về cơ bản là các liên kết trong chuỗi. Có ít ra năm polymer khác nhau trong tã dùng một lần làng nhàng của bạn, mỗi loại phục vụ một mục đích hơi khác nhau.

Các chốc được hình thành từ nhiều lớp khác nhau. Tấm trên cùng, gần nhất với da của em bé, thường được làm bằng polypropene. Một số thương hiệu cũng có một lớp kem dưỡng da mỏng trên tấm trên cùng để bảo vệ làn da của em bé. Lớp tã này cho phép nước tiểu của em bé đi qua và vào các lớp tã tiếp theo bên dưới.

Lớp bên dưới tấm trên cùng là lớp thu nhận. Lớp này thường bao gồm bông và polyester và hút nước đái, chuyển di nó ra khỏi da em bé. Bông tiếp thụ tới 27 lần trọng lượng của nó trong nước. Muối và các hợp chất khác trong nước giải làm giảm lượng mà nó thu nạp so với con số này, nhưng nó vẫn làm rất tốt việc ngâm nó. Tuy nhiên, bản thân nó sẽ không còn giữ lâu nữa trước khi tã của bé bắt đầu bị rò rỉ.

Đó là nơi mà lớp tiếp theo của chúng ta xuất hiện. Lớp thấm bên dưới lớp thu nhận cũng chứa một số bông nhưng cũng chứa một loại polymer khác: natri polyacryit. Đây là một loại polymer siêu hấp phụ, có khả năng thu nhận một lượng lớn gấp 800 lần trọng lượng của chính nó trong nước cất.

Cũng như bông, lượng nước tiểu nó có thể kết nạp bị giảm bởi các hợp chất khác có trong nước đái. mặc dù vậy, nó vẫn quản lý một trọng lượng khá ấn tượng gấp 30 lần trọng lượng của chính nó. Khi nó tiếp thụ nước giải, nó tạo thành một loại gel, ngăn ngừa ẩm ướt bên trong tã.

trung bình một em bé sáu tháng tuổi sản xuất khoảng 15 gram nước giải mỗi giờ. Hầu hết các loại tã chỉ chứa khoảng 2 – 4 gram natri polyacryit, nhưng chất này cùng với bông thấm, đủ để hấp thu nước giải trong vài giờ, giữ cho trẻ khô ráo suốt đêm.

Lớp nhát dùng một lần rút cuộc là tấm lót chống nước. Thường được cấu tạo từ polypropene và polyethene, lớp này ngăn chặn sự ẩm ướt có trong tã không chuyển sang khăn trải giường hoặc áo quần của em bé.

Trong những năm gần đây, bề mặt bên ngoài của một số buổi cho trẻ nhỏ đã bao gồm thêm một ‘chất chỉ thị ẩm ướt’. Điều này thường ở dạng màu, nó thay đổi màu sắc khi bên trong của tã bị ướt, cho ba má biết khi nào cần thay tã.

Theo tìm hiểu thì nhiều lúc có chứa chất chỉ thị ẩm dường như sử dụng một hóa chất gọi là bromophenol blue. Bromophenol blue là một chỉ thị pH – tức là, nó thay đổi màu sắc tùy thuộc vào độ axit hoặc độ kiềm xung quanh.

Trong tã lót, bromophenol blue xuất hiện màu vàng khi tã khô, nhưng độ pH hơi kiềm của nước đái làm cho màu của nó chuyển sang màu xanh khi tã ướt. Các bằng sáng chế khác cho thấy một số lót khác sử dụng các hóa chất mẫn cảm với độ ẩm làm chỉ thị, mặc dù không rõ các hợp chất này gây ra sự đổi thay màu sắc xuất hiện như thế nào.

Câu chuyện…

Như đã đề cập về hóa học đằng sau chập ở trên và đã đến lúc chúng ta nên bàn luận về những gì xảy ra với chúng sau khi sử dụng. Con số 5000 tã đó là cho mỗi đứa trẻ cộng lại – chỉ riêng ở Anh, chúng chiếm 2-3% tổng số rác thải sinh hoạt. Và người ta ước tinh rằng một cái tã dùng một lần mất khoảng 450 năm để phân hủy hoàn toàn trong bãi rác.

Vào năm 2008, Cơ quan Môi trường của Vương quốc Anh đã ước tính rằng, theo thời gian, một đứa trẻ mặc tã thường nhật, những thứ có thể tạo ra 550kg khí thải carbon chuẩn y việc sinh sản, phân phối và thải bỏ chúng.

Do tác động môi trường tiềm tàng này, việc chuyển sang dùng chập có thể tái sử dụng có vẻ như không có trí óc. Tuy nhiên, cùng một nghiên cứu cảnh báo rằng có tính đến các tác động của việc giặt đại hồi có thể tái sử dụng, tác động phát thải carbon của chúng tương đương với các loại nhát dùng một lần.

Điều này dựa trên một vài giả thiết và nghiên cứu đã xác định rằng sấy không khí thay vì sấy khô, tái dùng tã với đứa con thứ hai và một số nguyên tố khác có thể làm giảm tác động của việc tái sử dụng. Đó cũng là trường hợp tái dùng không tạo ra cùng một khối lượng chất thải mà lúc dùng một lần.

Bất kể cuộc tranh luận về lợi. của việc tái dùng so với việc dùng, nhút nhát dùng một lần vẫn là phổ quát hơn của cả hai. Để thử và chống lại lượng chất thải được gửi đến bãi rác, một số công ty đã bắt đầu nghiên cứu làm thế nào các nguyên liệu trong tã đã qua dùng có thể được tái chế.

Một nhà máy như vậy gần Venice ở Ý nhằm biến nhựa từ buổi thành nắp chai và xống áo. Nếu sự nhiệt liệt đối với lát dùng một lần vẫn tiếp kiến, có lẽ đây là câu đáp cho vấn đề lãng phí mà họ đặt ra – dù rằng nó sẽ cần phải được thực hiện ở quy mô lớn hơn trên toàn thế giới.

Bài viết đến đây là hết rồi. nhòm sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong ngày mai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo EA , Danhgiacuatui , Compound Interest , Ariel Shramko Pampers .

Những hóa chất bạn đừng bao giờ trộn với nhau

Một số hóa chất gia dụng thường ngày không bao giờ nên được trộn lẫn. Chúng có thể phản ứng để tạo ra một hợp chất độc hại hoặc gây chết người hoặc chúng có thể gây ra hậu quả không mong muốn. Sau đây là những gì bạn cần biết để phòng tránh nhé!

Chất tẩy trắng + Amoniac = Hơi độc clo

Chất tẩy trắng và amoniac là hai chất tẩy rửa gia dụng phổ quát không bao giờ nên trộn lẫn. Chúng phản ứng với nhau tạo thành hơi chloramine độc ​​hại và có thể dẫn đến việc sản xuất hydrazine độc.

Những gì nó làm: Chloramine đốt cháy mắt và hệ hô hấp của bạn và có thể dẫn đến tổn thương nội tạng. Nếu có đủ amoniac trong hỗn tạp, hydrazine có thể được sinh sản. Hydrazine không chỉ độc hại mà còn có khả năng gây nổ. Kịch bản trường hợp tốt nhất là sự khó chịu; trường hợp xấu nhất là cái chết.

Hóa chất tạo ra :

Lưu ý rằng mỗi loại hóa chất này đều độc hại, trừ nước và muối :

  • NH 3 = amoniac
  • HCl = axit clohydric
  • NaOCl = sodium hypochlorite (thuốc tẩy)
  • Cl = clo
  • Cl 2 = khí clo
  • NH 2 Cl = chloramine
  • N 2 H 4 = hydrazin
  • NaCl = natri clorua hoặc muối
  • H 2 O = nước

P hản ứng hóa học có khả năng :

Chất tẩy trắng phân hủy tạo thành axit hydrochloric, phản ứng với amoniac tạo thành khói chloramine độc ​​hại.

trước nhất, các dạng axit clohydric.

NaOCl → NaOH + HOCl

HOCl → HCl + O

Tiếp theo, khí amoniac và clo phản ứng tạo thành chloramine, được giải phóng dưới dạng hơi.

NaOCl + 2HCl → Cl 2 + NaCl + H 2 O

2NH 3 + Cl 2 → 2NH 2 Cl

Nếu amoniac hiện diện quá mức (có thể có hoặc không, tùy thuộc vào hỗn tạp của bạn), hydrazine lỏng độc hại và có khả năng gây nổ có thể hình thành. dù rằng hydrazine không tinh khiết có xu hướng không nổ, nhưng nó có khả năng đun sôi và phun chất lỏng nóng, độc hóa học.

2NH 3 + NaOCl → N 2 H 4 + NaCl + H 2 O

Sơ cứu khi tiếp xúc :

Nếu bạn xúc tiếp với khói từ hỗn hợp thuốc tẩy và amoniac, hãy ngay tức khắc đưa mình ra khỏi khu vực để có không khí trong sạch và chừng sự chăm nom y tế khẩn. Trong khi hơi có thể tấn công mắt và màng nhầy của bạn, mối đe dọa lớn nhất bắt nguồn từ việc hít phải khí.

  1. Tránh xa nơi trộn hóa chất. Bạn không thể gọi giúp đỡ nếu bạn bị choáng ngợp bởi khói.
  2. Gọi 115 để được giúp đỡ khẩn cấp.
  3. Nếu bạn thấy ai đó bất tỉnh nhân sự mà bạn tin là đang hít phải hợp chất tẩy / amoniac, hãy chũm đưa người đó ra không khí trong sạch, tốt nhất là ở ngoài trời. Gọi 115 để được hỗ trợ nguy cấp.
  4. lớp hướng dẫn dọn dẹp và xử lý hiệp. Một sai lầm như vậy rất có thể được thực hiện trong phòng tắm hoặc nhà bếp, nên hãy thông gió kỹ khu vực trước khi quay trở lại để xử lý các hợp chất và bắt đầu thu dọn.

Thuốc tẩy + Rượu xát = Chất độc cloroform

Natri hypochlorite trong chất tẩy gia dụng phản ứng với ethanol hoặc isopropanol trong rượu để tạo ra chloroform (CHCl 3 ), axit chlohydric (HCl). ngoại giả còn các hợp chất khó chịu khác có thể được sinh sản bao gồm chloroacetone, dichloroacetone và axit hydrochloric.

Những gì nó làm: Thở đủ chloroform sẽ đánh bật bạn ra, điều này sẽ khiến bạn không thể chuyển di đến không khí trong lành. Hít thở quá nhiều có thể giết chết bạn. Axit chlohydric có thể cung cấp cho bạn một vết bỏng hóa học. Các hóa chất có thể gây thương tổn nội tạng và dẫn đến ung thư và các bệnh khác sau này trong cuộc sống.

Loại bỏ hẩu lốn thuốc tẩy và rượu :

Nếu bạn vô tình trộn các hóa chất này và cần xử lý chất thải, đừng cụ trung hòa nó. trước nhất, hãy cẩn trọng và không đi vào khu vực bị ô nhiễm nếu bạn ngửi thấy mùi chloroform, có mùi nặng, có mùi ngọt. Khi mùi bắt đầu tan, pha loãng hẩu lốn với một lượng nước lớn và rửa nó xuống cống càng nhanh càng tốt.

Acetone và thuốc tẩy:

Mặc dù đây là một hỗn hợp ít phổ thông hơn, nhưng không trộn lẫn acetone và thuốc tẩy, vì phản ứng này cũng tạo ra chloroform:

3NaClO + C 3 H 6 O → CHCl 3 + 2NaOH + NaOCOCH 3

chung cuộc, trộn thuốc tẩy với bất kỳ hóa chất nào trừ nước là một ý tưởng cực kỳ lợt. Chất tẩy trắng phản ứng với giấm , amoniac và hầu hết các chất tẩy rửa gia dụng để tạo ra khói độc.

Chất tẩy trắng + Giấm = Khí clo độc hại

Bạn có nhận thấy một chủ đề phổ thông ở đây? Chất tẩy trắng là một hóa chất phản ứng cao không nên trộn lẫn với các chất gột rửa khác. Một số người trộn thuốc tẩy và giấm để tăng khả năng làm sạch của hóa chất. Đó không phải là một ý tưởng tốt bởi phản ứng tạo ra khí clo. Phản ứng không giới hạn ở giấm (axit axetic yếu). Tránh trộn các axit gia dụng khác với thuốc tẩy, chả hạn như nước chanh hoặc một số chất gột rửa bồn cầu.

Nó làm gì: Khí clo đã được dùng như một tác nhân chiến tranh hóa học, do vậy nó không phải là thứ bạn muốn sinh sản và hít vào trong nhà của bạn. Clo tiến công da, niêm mạc và hệ hô hấp. Tốt nhất, nó sẽ khiến bạn ho và kích thích mắt, mũi và miệng. Nó có thể khiến bạn bị bỏng hóa chất và có thể gây tử vong nếu bạn tiếp xúc với nồng độ cao hoặc chẳng thể tiếp cận với không khí trong sạch.

Điều gì xảy ra khi thuốc tẩy và giấm được trộn lẫn?

Thuốc tẩy clo có chứa sodium hypochlorite hoặc NaOCl. Vì chất tẩy trắng là natri hypochlorite hòa tan trong nước, natri hypochlorite trong chất tẩy đích thực tồn tại dưới dạng axit hypochlorous:

NaOCl + H 2 O ↔ HOCl + Na + + OH

Hypochlorous acid là một chất oxy hóa mạnh. Đây là những gì làm cho nó rất tốt trong việc tẩy trắng và sát trùng. Nếu bạn trộn thuốc tẩy với axit, khí clo sẽ được tạo ra. tỉ dụ, trộn chất tẩy với chất tẩy rửa bồn cầu, có chứa axit hydrochloric, tạo ra khí clo:

HOCl + HCl ↔ H O + Cl 2

Mặc dù khí clo tinh khiết có màu vàng lục, khí được tạo ra bằng cách trộn hóa chất được pha loãng trong không khí. Điều này làm cho nó vô hình, thành thử cách độc nhất vô nhị để biết nó là bởi mùi và tác động tiêu cực. Khí clo tấn công các màng nhầy ở mắt, cổ họng và phổi. Các cuộc tấn công này có thể gây tử vong. Trộn thuốc tẩy với một loại axit khác, chả hạn như axit axetic có trong giấm, mang lại kết quả căn bản giống nhau:

2HOCl + 2HAc ↔ Cl 2 + 2H 2 O + 2Ac (Ac: CH 3 COO)

Có một thể cân bằng giữa các loài clo chịu ảnh hưởng của pH. Khi độ pH được hạ xuống, vì khi thêm chất gột rửa bồn cầu hoặc giấm, tỷ lệ khí clo được tăng lên. Khi độ pH được nâng lên, tỷ lệ ion hypochlorite được tăng lên. Hypochlorite ion là chất oxy hóa kém hiệu quả hơn axit hypochlorous, nên một số người sẽ cố tình hạ thấp độ pH của chất tẩy để tăng khả năng oxy hóa của hóa chất dù rằng kết quả là khí clo được tạo ra.

Thay vào đó, bạn nên làm gì?

Đừng tự đầu độc! Thay vì tăng hoạt động của thuốc tẩy bằng cách thêm giấm vào nó, sẽ an toàn và hiệu quả hơn khi chỉ cần mua thuốc tẩy tươi. Thuốc tẩy clo có hạn vận sử dụng, do đó nó mất điện theo thời kì.

Điều này đặc biệt đúng nếu thùng chứa chất tẩy đã được lưu trữ trong vài tháng. sử dụng thuốc tẩy tươi an toàn hơn nhiều so với nguy cơ ngộ độc bằng cách trộn thuốc tẩy với hóa chất khác. Bạn có thể sử dụng riêng thuốc tẩy và giấm để làm sạch miễn bề mặt được rửa sạch giữa các sản phẩm.

Giấm + Peroxide = Axit Peracetic

Bạn có thể bị cám dỗ trộn hóa chất để tạo ra một sản phẩm mạnh hơn, nhưng sản phẩm gột rửa là lựa chọn lợt nhất để chơi hóa học tại nhà! Giấm (axit axetic yếu) phối hợp với hydro peroxide để tạo ra axit peracetic. Hóa chất thu được là một chất khử trùng mạnh hơn, nhưng nó cũng ăn mòn, thành thử bạn biến hóa chất gia dụng tương đối an toàn thành một chất nguy hiểm.

Nó có tác dụng gì: Axit peracetic có thể gây kích ứng mắt và mũi của bạn và có thể khiến bạn bị bỏng hóa chất.

Peroxide + Thuốc nhuộm tóc Henna = Cơn ác mộng cho tóc

Phản ứng hóa học khó chịu này rất có thể gặp phải nếu bạn nhuộm tóc ở nhà. Gói thuốc nhuộm tóc hóa học cảnh báo bạn không nên dùng sản phẩm nếu bạn đã nhuộm tóc bằng thuốc nhuộm tóc henna. Tương tự, màu tóc henna cảnh báo bạn không dùng thuốc nhuộm thương nghiệp. vì sao cảnh báo?

Các sản phẩm henna khác với màu đỏ có chứa muối kim khí, không chỉ là chất thực vật. kim loại phản ứng với hydro peroxide trong các màu tóc khác trong phản ứng tỏa nhiệt có thể gây ra phản ứng da, đốt cháy bạn, làm tóc bạn rụng và tạo ra màu sắc đáng sợ chẳng thể đoán trước trên tóc.

Nó có tác dụng gì: Peroxide loại bỏ màu hiện có trên tóc của bạn, bởi vậy việc thêm màu mới sẽ dễ dàng hơn. Khi nó phản ứng với muối kim loại (không thường thấy trong tóc), nó sẽ oxy hóa chúng. Điều này làm hỏng sắc tố từ thuốc nhuộm henna và làm một số trên tóc của bạn. Kịch bản hay nhất? Tóc khô, hư tổn, có màu kỳ lạ. Trường hợp xấu nhất? Chào mừng đến với thế giới rộng lớn ráo trọi của tóc giả.

Baking Soda + Giấm = đốn là nước

Trong khi các hóa chất trước đó trong danh sách kết hợp để tạo ra một sản phẩm độc hại, việc trộn baking soda và giấm mang lại cho bạn một cách không hiệu quả. Ồ, sự phối hợp thật tiệt nếu bạn muốn tạo ra khí carbon dioxide cho một ngọn núi lửa hóa học , nhưng phủ nhận những nắm của bạn nếu bạn có ý định dùng các hóa chất để làm sạch.

Những gì nó làm: Baking soda (natri bicarbonate) phản ứng với giấm (axit axetic yếu) để tạo ra khí carbon dioxide, natri acetate và đẵn là nước. Đó là một phản ứng đáng giá nếu bạn muốn làm đá nóng . Trừ khi bạn đang trộn hóa chất cho một dự án khoa học thì đừng bận tâm.

AHA / Glycolic Acid + Retinol = phung phá $$$

Các sản phẩm coi ngó da đích thực có tác dụng làm giảm sự xuất hiện của nếp nhăn và nếp nhăn bao gồm axit alpha-hydroxy (AHA), axit glycolic và retinol. Những sản phẩm này sẽ không làm da bạn nhăn. Trên thực tế, các axit làm giảm hiệu quả của retinol.

Những gì nó làm: Các sản phẩm trông nom da hoạt động tốt nhất ở một chừng độ axit hoặc độ pH cố định. Khi bạn trộn sản phẩm, bạn có thể thay đổi độ pH, làm cho chế độ chăm sóc da đắt tiền của bạn trở nên vô nghĩa. Kịch bản hay nhất? AHA và axit glycolic làm tẩy da chết, nhưng bạn không nhận được tiếng nổ từ retinol. Trường hợp xấu nhất? Bạn nhận được thêm kích ứng da và nhạy cảm, cộng với bạn hoang toàng tiền bạc.

Bạn có thể dùng hai bộ sản phẩm, nhưng bạn cần cho phép thời gian để một sản phẩm được tiếp thu hoàn toàn trước khi vận dụng bộ kia. Một lựa chọn khác là thay thế loại bạn dùng.

Trên đây là những điều thú nhận về những hóa chất gia dụng bạn đừng nên trộn chúng với nhau. mong sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong tương lai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Thoughtco .

Tại sao lửa nóng?

Trong cuộc sống này, chúng ta luôn tự hỏi tại sao lại như thế này, vì sao lại như thế kia vì trí tò mò vốn có của con người. Và tất nhiên trong hàng vạn câu hỏi vì sao đó thì câu hỏi “tại sao lửa lại nóng?” là một trong những câu hỏi nguyên sơ nhất từ khi xuất hiện sự sống trên trái đất. do vậy, trong bài biết này chúng ta sẽ tìm hiểu xem đâu là lý do thật sự để trà lời cho câu hỏi này nhé!

Đôi nét

Lửa nóng vì năng lượng nhiệt (trong trường hợp này là nhiệt) được phóng thích khi kết liên hóa học bị phá vỡ và hình thành trong phản ứng đốt cháy. Đốt cháy biến nhiên liệu và oxy thành carbon dioxide và nước. Năng lượng thật sự cấp thiết để bắt đầu phản ứng, phá vỡ liên kết trong nhiên liệu và giữa các nguyên tử oxy, nhưng nhiều năng lượng được giải phóng khi các nguyên tử kết liên với nhau thành carbon dioxide và nước.

Nhiên liệu + Oxy + Năng lượng → Carbon Dioxide + Nước + Năng lượng nhiều hơn

Cả ánh sáng và nhiệt đều được phóng thích dưới dạng năng lượng. Ngọn lửa là bằng chứng hữu hình của năng lượng này. Ngọn lửa bao gồm cốt tử là khí nóng.

Than hồng phát sáng vì vật chất này đủ nóng để phát ra ánh sáng sợi đốt (giống như đầu đốt bếp), trong khi ngọn lửa phát ra ánh sáng từ các khí bị ion hóa (như bóng đèn huỳnh quang). Ánh sáng lò sưởi là một dấu hiệu rõ ràng của phản ứng đốt cháy, nhưng năng lượng nhiệt (nhiệt) cũng có thể là vô hình.

Tóm lại: Lửa nóng vì năng lượng dự trữ trong nhiên liệu được giải phóng đột ngột. Năng lượng cần thiết để bắt đầu phản ứng hóa học ít hơn nhiều so với năng lượng được giải phóng.

Điều chủ chốt: vì sao lửa nóng?

  • Lửa luôn nóng, bất kể nhiên liệu được sử dụng.
  • dù rằng quá trình đốt cháy đòi hỏi năng lượng kích hoạt (đánh lửa), nhiệt lượng tỏa ra vượt quá năng lượng cần thiết.
  • Phá vỡ liên kết hóa học giữa các phân tử oxy sẽ hấp thụ năng lượng, nhưng quá trình hình thành liên kết hóa học cho các sản phẩm (carbon dioxide và nước) giải phóng nhiều năng lượng hơn.

Lửa nóng như thế nào?

Không có nhiệt độ duy nhất cho lửa vì lượng năng lượng nhiệt được giải phóng phụ thuộc vào một số nhân tố, bao gồm thành phần hóa học của nhiên liệu, lượng oxy có sẵn và phần ngọn lửa được đo.

Một đám cháy gỗ có thể vượt quá 1100°C, nhưng các loại gỗ khác nhau bị đốt cháy ở nhiệt độ khác nhau. thí dụ, gỗ thông tạo ra nhiệt lượng gấp hơn hai lần so với linh sam hoặc liễu và gỗ khô cháy nóng hơn gỗ xanh. Propan trong không khí cháy ở nhiệt độ tương đương (1980°C), nhưng oxy cháy nóng hơn nhiều (2820°C). Các nhiên liệu khác như acetylene trong oxy (3100°C) đốt nóng hơn bất kỳ loại gỗ nào.

Màu của lửa là một thước đo sơ bộ về độ nóng của nó. Lửa đỏ sâu ở khoảng 600-800°C, vàng cam ở khoảng 1100°C, và ngọn lửa trắng vẫn nóng hơn, ngả nghiêng từ 1300-1500°C. Một ngọn lửa màu xanh là ngọn lửa nóng nhất trong hết thảy, dao động từ 1400-1650°C. Ngọn lửa khí màu xanh của đầu đốt Bunsen nóng hơn nhiều so với ngọn lửa màu vàng từ một cây nến sáp!

Phần nóng nhất của ngọn lửa

Phần nóng nhất của ngọn lửa là điểm cháy tối đa, là phần màu xanh của ngọn lửa (nếu ngọn lửa đốt nóng). Tuy nhiên, hồ hết các sinh viên thực hiện các thể nghiệm khoa học được yêu cầu sử dụng đỉnh ngọn lửa. vì sao? Vì nhiệt tăng, nên đỉnh của ngọn lửa là điểm thu năng lượng tốt. ngoại giả, hình nón của ngọn lửa có nhiệt độ khá phù hợp. Một cách khác để đánh giá vùng nhiệt độ cao nhất là tìm phần sáng nhất của ngọn lửa.

Ngọn lửa nóng nhất và huých nhất

Ngọn lửa nóng nhất từng được sinh sản là ở 4990°C. Ngọn lửa này được hình thành bằng cách sử dụng dicyanoacetylene làm nhiên liệu và ozone làm chất oxy hóa.

Cool fire (lửa mát – là những ngọn lửa có nhiệt độ cực đại dưới 400°C) cũng có thể được thực hiện. thí dụ, một ngọn lửa khoảng 120°C có thể được hình thành bằng cách dùng hổ lốn nhiên liệu không khí quy định. Tuy nhiên, do cool fire gần như không qua điểm sôi của nước, loại lửa này khó duy trì và dễ dàng thoát ra ngoài.

Bài viết đến đây là hết rồi. trông sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong tương lai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Thoughtco Klaus Schmidt-Rohr .

Các phương pháp điều trị COVID đầu tiên được xác định như thế nào?

Vào ngày 16 tháng 6 năm 2020 tức khoảng một năm trước, phương pháp điều trị hiệu quả trước nhất đối với COVID-19 đã được công bố. Thuốc corticosteroid dexamethasone, đã được dùng để điều trị một số tình trạng viêm và tự miễn dịch, đã được phát hiện có hiệu quả đối với những bệnh nhân bị COVID trong tình trạng nghiêm trọng tại bệnh viện. Khám phá này là sản phẩm của thí điểm RECOVERY, một chương trình bắt đầu vào tháng 3 năm 2020 để tìm ra phương pháp điều trị COVID.

RECOVERY , như cách viết hoa gợi ý, là một từ viết tắt của “Randomised Evaluation of COVID-19 Therapy” (Đánh giá tình cờ liệu pháp COVID-19). Đây là một thí điểm được thiết lập tại Đại học Oxford, và đã vấn hơn 40.000 bệnh nhân COVID nhập viện ở Anh. Các phương pháp điều trị mà những bệnh nhân này nhận được là ngẫu nhiên từ 12 phương pháp điều trị đang được thể nghiệm, cho nên một bệnh nhân riêng lẻ có thể không nhận được không, một, hai hoặc ba phương pháp điều trị nào có thể.

cả thảy các phương pháp điều trị được đưa vào thí nghiệm trong thể nghiệm RECOVERY đều là các loại thuốc đã có từ trước hoặc phương pháp điều trị các bệnh lý khác. Việc thay thế các loại thuốc đã được duyệt y cho các bệnh khác sẽ ít tốn thời kì hơn rất nhiều so với việc cố tìm ra các phương pháp điều trị hoàn toàn mới. Quá trình duyệt y một loại thuốc mới để sử dụng chung cho bệnh nhân có thể mất vài năm; trái lại, nếu một loại thuốc đã được phê duyệt có hiệu quả, toàn bộ bệnh nhân có thể bắt đầu dùng nó ngay lập tức.

Cấu trúc của dexamethasone. Ảnh: Wikipedia

Trong số các phương pháp điều trị được thí điểm như một phần của thể nghiệm RECOVERY, ba phương pháp đã được tìm thấy là có hiệu quả. Dexamethasone là thuốc trước tiên trong số này, được phát hiện có hiệu quả ở những bệnh nhân nằm viện cần tương trợ thở. Cấu trúc của dexamethasone tương tự như cấu trúc của hormone stress, cortisol, và nó có tác dụng chống viêm và ức chế miễn dịch trong thân thể, điều này có thể giải thích hiệu quả của nó. Một trong những phương pháp điều trị khác mà thí điểm cho thấy có hiệu quả, Tocilizumab, cũng có tác dụng tương tự.

Quan trọng không kém, thể nghiệm RECOVERY đã cho chúng ta thấy những phương pháp điều trị COVID nào không hiệu quả. cả thảy chúng ta đều có thể nhớ lại những tuyên bố được đưa ra sớm trong đại dịch về hydroxychloroquine, loại thuốc trị sốt rét mà Donal Trump và những người khác đã lăng xê là chìa khóa để chữa khỏi COVID. thể nghiệm RECOVERY đã chỉ ra rằng, trái ngược với những tuyên bố giai thoại này, dữ liệu cho thấy hydroxychloroquine không có hiệu quả như một phương pháp điều trị COVID. Có vẻ như thường bổ ích khi biết phương pháp điều trị nào không hiệu quả, nhưng đó là một bước Quan trọng ngăn các thầy thuốc bền chí với các phương pháp điều trị không hiệu quả – và cho phép họ đảm bảo bệnh nhân được điều trị tốt nhất có thể.

Tác dụng của dexamethasone thoạt nghe có vẻ khiêm tốn. Các ước lượng, khi chứng cứ về hiệu quả của dexamethasone đối với COVID được công bố lần trước nhất, cho thấy rằng nó có thể ngăn ngừa 1/3 trường hợp tử vong ở bệnh nhân thở máy và 1/5 trường hợp tử vong ở bệnh nhân thở oxy. Nhưng số liệu thống kê từ tháng 3 năm 2021 cho thấy điều trị bằng dexamethasone đã cứu sống 22.000 người và hơn 1.000.000 người trên toàn thế giới.

thí điểm RECOVERY có nhiều ích hơn. Ngoài việc cung cấp các phương pháp điều trị để cứu sống trong đại dịch hiện thời, nó đã tạo tiền lệ cho việc các thí nghiệm điều trị quy mô lớn, thân thiện với người dùng có thể được thiết lập và chạy trong tình huống khẩn cấp, vô giá khi đại dịch tiếp theo xảy ra. Trong khi chờ đợi, nó vẫn cung cấp bằng cớ cho các phương pháp điều trị có thể giúp chúng ta ở đây và hiện giờ – mới bữa nay, thể nghiệm đã công bố tin cẩn rằng việc tiêm kháng thể vào tĩnh mạch có thể giúp một số bệnh nhân COVID tăng cường phản ứng miễn nhiễm với căn bệnh này.

Bài viết đến đây là hết rồi. trông coi sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong ngày mai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Compound Interest .

Năng lượng được tế bào sản xuất như thế nào?

Có một điều khá thú vị là ai cũng biết rằng mỗi khi đói bụng, thì thân trở nên yếu ớt và thiếu sinh khí. Trong khi nếu bạn được ăn uống đầy đủ, thì thân thể trở nên đầy năng lượng và sinh khí. Vậy đâu là nguyên cớ tạo nên sự dị biệt này? Có phải chăng tế bào sản sinh ra năng lượng? Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, mời độc giả bài viết sau đây nhé!

Trong sinh vật học tế bào, chuỗi vận chuyển điện tử là một trong những bước quan trọng trong quá trình tế bào của bạn, tạo ra năng lượng từ các loại thực phẩm bạn ăn.

Đây là bước thứ ba của sự hô hấp tế bào hiếu khí. Sự hô hấp tế bào là thuật ngữ sử dụng cho cách các tế bào của thân thể tạo ra năng lượng từ thức ăn xài thụ. Chuỗi vận tải điện tử là nơi mà hầu hết các tế bào năng lượng được tạo ra. “Chuỗi” này thực thụ là một loạt các phức hợp protein và các phân tử mang điện tử trong màng bên trong của ty thể tế bào, còn được gọi là nhà máy điện của tế bào.

Vậy làm thế nào năng lượng được sinh ra?

Oxy là cần thiết cho hô hấp hiếu khí khi chuỗi kết thúc với sự đóng góp của các điện tử để oxy. Và khi các electron chuyển di dọc theo một chuỗi, chuyển động hoặc động lượng được sử dụng để tạo ra adenosine triphosphate (ATP). ATP là nguồn năng lượng chính cho nhiều quá trình tế bào bao gồm co cơ và phân chia tế bào.

Năng lượng được giải phóng trong quá trình chuyển hóa tế bào khi ATP thủy phân. Điều này xảy ra khi các electron được truyền dọc theo chuỗi từ phức hợp protein này đến phức hợp protein khác, cho đến khi chúng được tặng cho oxy tạo thành nước. ATP phân hủy hóa học thành adenosine diphosphate (ADP) bằng cách phản ứng với nước. Sau đó, ADP tuần tự được dùng để tổng hợp ATP.

Cụ thể hơn, khi các electron được truyền dọc theo một chuỗi từ phức hợp protein đến phức protein, năng lượng được phóng thích và các ion hydro (H+) được bơm ra khỏi chất gian bào của ty thể (ngăn trong màng bên trong) và vào xoang gian màng (đây là không gian choáng giữa ngăn giữa màng trong và ngoài).

toàn bộ các hoạt động này tạo ra cả một gradient hóa học (đây là sự khác biệt trong nồng độ dung dịch) và gradient điện (đây là sự khác biệt về điện tích) ngang qua màng trong. Khi nhiều ion H+ được bơm vào xoang gian màng, nồng độ của các nguyên tử hydro cao hơn sẽ tích trữ và chảy ngược trở lại chất gian bào, đồng thời cấp năng lượng cho quá trình sản xuất ATP hoặc ATP synthase.

ATP synthase sử dụng năng lượng sinh ra từ sự chuyển động của ion H+ vào chất gian bào để chuyển đổi ADP thành ATP. Quá trình oxy hóa các phân tử này tạo ra năng lượng cho quá trình sinh sản ATP, được gọi là quá trình phosphoryl hóa oxy hóa.

Các bước của quá trình hô hấp tế bào

Bước trước nhất của quá trình hô hấp tế bào là glycolysis (đây là quá trình thủy phân glucose). Glycolysis xảy ra trong tế bào chất và can hệ đến việc tách một phân tử glucose thành hai phân tử của hợp chất hóa học pyruvate. Nói nôm na là có hai phân tử ATP và hai phân tử NADH (năng lượng cao, phân tử mang điện tử) được tạo ra.

Glycolysis có thể xảy ra có hoặc không có oxy. Trong sự hiện diện của oxy, glycolysis là giai đoạn trước tiên của hô hấp tế bào hiếu khí. Không có oxy, glycolysis cho phép các tế bào tạo ra một lượng nhỏ ATP. Quá trình này được gọi là hô hấp kỵ khí hoặc lên men. Quá trình lên men cũng tạo ra axit lactic, có thể tích trong các mô cơ gây đau và cảm giác nóng rát.

Bước thứ hai, được gọi là chu trình axit citric hoặc chu kỳ Krebs, bắt đầu sau khi hai phân tử của ba đường carbon sinh sản trong glycolysis được chuyển thành một hợp chất hơi khác (acetyl CoA). Quá trình này xảy ra khi pyruvate được tải qua màng ty thể bên ngoài và bên trong vào chất gian bào của ty thể. Sau đó, pyruvate đấu bị oxy hóa trong chu trình Krebs tạo ra hai phân tử ATP, cũng như các phân tử NADH và FADH2.

Chu trình axit citric chỉ xảy ra khi có oxy nhưng không sử dụng oxy trực tiếp. Các electron từ NADH và FADH2 được chuyển đến bước thứ ba của quá trình hô hấp tế bào, đó là chuỗi chuyên chở electron/phosphoryl hóa oxy hóa.

Phức hợp protein trong chuỗi

Có bốn phức hợp protein là một phần của chuỗi vận tải điện tử có chức năng truyền các electron xuống chuỗi. Một phức hợp protein thứ năm phục vụ để tải các ion hydro trở lại vào chất gian bào. Những phức hợp này được gắn vào trong màng ty thể bên trong.

Phức hợp I (complex I)

NADH chuyển hai electron đến phức hợp I để tạo ra bốn ion H+ được bơm qua màng bên trong. Lúc này, NADH bị oxy hóa thành NAD+, được tái chế trở lại chu kỳ Krebs. Các electron được chuyển từ phức hợp I sang phân tử mang ubiquinone (Q), được giảm xuống ubiquinol (QH2). Ubiquinol mang các electron đến Complex III.

Phức hợp II (complex II)

FADH2 chuyển các electron đến Complex II và các electron được truyền tới ubiquinone (Q). Q được giảm xuống ubiquinol (QH2), mang các electron đến complex III. Không có ion H+ nào được chuyên chở đến không gian liên màng trong quá trình này.

Phức hợp III (complex III)

Việc truyền electron đến phức hợp III giúp vận tải bốn ion H+ trên màng bên trong. QH2 bị oxy hóa và các electron được chuyển tới một protein mang điện tử khác là cytochrome C.

Phức hợp IV (complex IV)

Cytochrome C chuyển electron vào phức hợp protein rút cục trong chuỗi, complex IV. Hai ion H+ được bơm qua màng trong. Các electron sau đó được truyền từ phức hợp IV sang phân tử oxy (O2), làm cho phân tử bị phân chia. Các nguyên tử oxy thu được chóng vánh lấy các ion H+ để tạo thành hai phân tử nước.

ATP synthase

ATP synthase di chuyển ion H+ được bơm ra khỏi chất gian bào bởi chuỗi tải electron trở lại chất gian bào. Năng lượng từ dòng proton vào chất gian bào được sử dụng để tạo ra ATP bằng cách phosphoryl hóa (bổ sung phosphate) của ADP. Sự chuyển động của các ion trên màng ty thể có thể chọn lọc và xuống gradient điện hóa của chúng được gọi là hóa thẩm.

NADH tạo ra ATP nhiều hơn FADH2. Đối với mỗi phân tử NADH bị oxy hóa, 10 ion H+ được bơm vào không gian màng ngăn. Điều này mang lại khoảng ba phân tử ATP. bởi FADH2 đi vào chuỗi ở thời đoạn sau (Phức tạp II), chỉ có sáu ion H+ được chuyển đến xoang gian màng. Điều này chiếm khoảng hai phân tử ATP. Tổng cộng có 32 phân tử ATP, C6H12O6 + 6O2 → 6CO2 + 6H2O + ~32 ATP, được tạo ra trong vận tải electron và phosphoryl hóa oxy hóa.

Quá trình sinh sản năng lượng từ tế bào có vẻ phức tạp đúng không nào? Tuy nhiên, lại một lần nữa hóa học cũng góp phần vào trong cơ chế này. nhóng bài viết sẽ giúp ích cho các bạn trong tương lai.

Tham khảo ThoughtCo .

Hóa học của những loài ếch độc

Những màu sắc sống động của các loài ếch độc cảnh báo về các hợp chất cực độc có trong da của chúng. Số lượng chất độc trong một con ếch được ước lượng là đủ để giết chết 20.000 con chuột – nhưng những hợp chất này là gì, chúng đến từ đâu, và điều gì làm cho những con ếch không bị ảnh hưởng bởi tác dụng của chúng? Bài viết bữa nay sẽ cho bạn một cái nhìn rõ hơn!

Giới thiệu

Ếch phi tiêu độc là loài ếch có cội nguồn từ các khu rừng nhiệt đới của Trung và Nam Mỹ. Có hơn 170 loài khác nhau, trong đó có một loạt các màu sắc tươi sáng khác nhau; trên thực tế, ngay cả trong một loài độc nhất cũng có thể có sự biến đổi về màu sắc, có thể dẫn đến nhận dạng sai. Màu sắc sống động này cảnh báo về bản chất độc hại của chúng, nhưng sự hiểu biết những chất độc này đã chứng tỏ là một thách thức lớn hơn bạn trông đợi.

Chất độc của ếch có cỗi nguồn từ đâu?

Để bắt đầu, các nhà khoa học thậm chí còn không biết chắc chất độc đến từ đâu. Lý thuyết ban đầu là những con ếch tự sinh sản chất độc, dù rằng nó đã được ghi nhận rằng chừng độ các hợp chất độc hại trong da của chúng giảm theo thời kì khi chúng được giữ trong điều kiện nuôi nhốt.

Các nghiên cứu đã thay chứng minh rằng những con ếch tổng hợp các hợp chất không thành công, và điều này khiến các nhà khoa học coi xét khả năng khác: rằng những con ếch không tự tạo ra các hợp chất, nhưng lấy chúng từ đâu đó.

Điều này dẫn đến giả thuyết về chế độ ăn uống. Các nhà khoa học nhận thấy rằng ếch của cùng một loài cho thấy sự dị biệt trong sự thăng bằng của các hợp chất độc mà chúng chứa trong thời gian, và tự hỏi liệu điều này có thể là do sự thay đổi trong chế độ ăn của chúng.

Điều tra thêm cho thấy sự hiện diện của các hợp chất alkaloid độc nhất định trước đây đã được biết đến ở kiến ​​và các động vật chân đốt khác, và rõ ràng là những con ếch bằng cách nào đó tích các hợp chất này từ nguồn thức ăn vào da. chính xác cách họ làm điều này là một góc cạnh của câu chuyện vẫn chưa rõ ràng.

Các chất độc chứa trong ếch độc

Chất độc chứa trong loài ếch độc rất phức tạp: hơn 800 hợp chất alkaloid khác nhau đã được xác định trong da của nhiều loài khác nhau. Nhiều lớp (họ) của các hợp chất này hiện đã có khả năng xác định được nguồn thức ăn, và các loài ếch khác nhau chứa các hỗn hợp khác nhau của các hợp chất. Chúng có thể bao gồm pumiliotoxins, histrionicotoxins, gephyrotoxin, và nhiều loại khác. Tuy nhiên, có nhẽ chất độc nhất trong số các độc tố này là batrachotoxin.

Batrachotoxin là một trong những chất độc alkaloid duy nhất được biết đến. Nó được tìm thấy ở một số loài ếch độc, nhưng ở mức độ đặc biệt cao ở ba loài khác nhau: ếch độc vàng, ếch độc Kokoe và ếch độc đầu đen. Loài ếch độc vàng có chứa hàm lượng cao nhất của hợp chất, với một con ếch độc nhất vô nhị được ước lượng có chứa đủ độc tố để giết 20.000 con chuột, hoặc 10-20 người trưởng thành. Với độc tính cao như vậy, bạn có thể tự hỏi làm thế nào con ếch không chỉ chống chọi với chất độc khi nó có được từ chế độ ăn uống?

Batrachotoxin giết chết do ảnh hưởng của nó trên các kênh ion natri trong thân thể. Nó liên kết với các kênh này và mở chúng ra, can thiệp vào sự truyền tâm thần và làm cho cơ co lại. chung cục, điều này dẫn đến tim đập nhanh, sau đó ngừng tim và tử vong. May mắn cho những con ếch, chúng có thể tránh được mạng khó chịu này, nhưng cho đến gần đây các nhà khoa học không biết chuẩn xác vì sao.

Người ta chỉ ra rằng những con ếch tránh các tác dụng của độc tố batrachotoxin nhờ một đột biến đơn trong phiên bản của protein kênh ion natri. Đột biến này không làm đổi thay các đặc tính của kênh ion natri, nhưng lại có khả năng chống lại độc tố batrachotoxin, có tức là ếch được tự do tích nó mà không giết chết chúng. Tuy nhiên, vẫn chưa rõ chính xác đột biến này làm cho nó khó khăn hơn nhiều như thế nào đối với batrachotoxin để kết liên với các kênh, nhưng nghiên cứu sâu hơn vẫn có thể tiết lậu lý do.

Ngăn chặn độc tố batrachotoxin ở người

Nghiên cứu trong tương lai cũng có thể tiết lộ một cách ngăn chặn tác dụng của độc tố batrachotoxin ở người, điều này sẽ được hoan nghênh vì hiện tại không có thuốc giải độc cho hợp chất này. Rõ ràng điều gần nhất mà chúng ta hiện đang có với thuốc giải độc là đủ kỳ quặc, một hợp chất độc khác: tetrodotoxin, chất hóa học độc hại cao được tìm thấy trong cá nóc.

Nó hoạt động theo cách ngược lại với batrachotoxin – nó cũng liên kết với các kênh ion natri, nhưng chúng bị kẹt lại chứ không phải mở, thành thử có thể làm giảm bớt các hiệu ứng của độc tố. Nó chắc chắn không có vẻ giống như điều trị lý tưởng, và tôi đã không thể tìm thấy bất kỳ hồ sơ của nó bao giờ đích thực được dùng.

Cuối cùng, dù rằng chúng nhận được ít sự để ý, có rất nhiều câu chuyện thích thú khác trong số các alkaloid khác được tìm thấy trong ếch độc. Một tỉ dụ như vậy là epibatidine. Alkaloid độc này liên kết với các thụ thể acetylcholine nicotinic (nAChR) trên khắp thân thể, gây co giật, liệt, và sau đó tử vong.

dù rằng có những tác dụng độc hại này, nó cũng được nghiên cứu như một thuốc giảm đau tiềm năng, như buộc ràng với các thụ thể (receptor) mà nó mang lại cho nó tác dụng giảm đau. Tuy nhiên, khi liều giảm đau cũng rất gần với liều độc, nghiên cứu sử dụng nó đã bị ngưng.

hiện nay thì các bạn đã hiểu về hóa học của những loài ếch độc rồi đúng không nào. Lần sau nếu vô tình bạn gặp phải chúng thì hãy cẩn thận nhé!

Tham khảo Compound Interest và tổng hợp.

Hóa học của vắc-xin

Chủ đề vắc-xin là chủ đề muôn thuở luôn được mọi người quan hoài, đặc biệt là các bà mẹ bỉm sữa. Vì việc tiêm phòng nhằm giúp bảo vệ sức khỏe của chúng ta trước các loại bệnh hiểm càng ngày càng tăng nhanh. Nhưng có một điều đáng buồn là ở đâu đó vẫn có một đôi nơi vắc-xin được tiêm phòng không rõ nguồn gốc. Do vậy ở một số nhà nước trên thế giới đặc biệt là Mỹ, một số phụ huynh quyết định không tiêm ngừa cho con cái của họ bất chấp những ích của nó mang lại.



Trong khi đây không phải là nhân tố độc nhất vô nhị, một phần bị đỗ lỗi là do thông báo méo mó về thành phần hóa học của vắc xin và những tác động các hợp chất này có thể có. thành ra để giúp cho các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này, chủ đề tiếp theo của blog sẽ là hóa học của vắc-xin nhé!

Thành phần hoạt tính

Nói chung, trong vắc-xin có một số thành phần chính là kháng nguyên, chất ổn định, chất bảo quản và tá dược. Trong đó, các thành phần hoạt tính, hoặc kháng nguyên, là một phần quan yếu, chịu trách nhiệm miễn nhiễm đối với bệnh. Nó bao gồm một dạng biến đổi của vi-rút, vi khuẩn hoặc độc tố gây bệnh; bản chất chuẩn xác có thể khác nhau giữa các vắc-xin.

Một số vắc-xin dùng một dạng virus bất hoạt; điều này được thực hành bằng cách xử lý vi-rút bằng một hóa chất giết chết các phần của nó, và làm cho nó chẳng thể tái hiện. Trong khi nó không thể tái tạo, việc tiêm/bơm vẫn sẽ bắt đầu khai mào miễn nhiễm từ thân thể, gây ra khả năng miễn dịch, mặc dù điều này có thể đòi hỏi một vài liều trong một số trường hợp. Ưu điểm của phương pháp tiêm chủng này là nó thậm chí có thể được gây ra cho những người có hệ miễn nhiễm yếu.

Các thành phần hoạt tính khác sẽ chỉ cấu thành từ một phần của vi khuẩn hoặc vi-rút gây ra khả năng miễn nhiễm phát triển – các phần khác của mầm bệnh gây ra các triệu chứng bệnh được loại bỏ. Ngoài ra, trong một số trường hợp vi khuẩn, các độc tố do vi khuẩn tạo ra cũng có thể được dùng để tạo ra phản ứng miễn dịch. Trong một số trường hợp vi-rút yếu cũng có thể được sử dụng. Điều này gây ra phản ứng miễn nhiễm mà không gây ra các triệu chứng nghiêm trọng, và có lợi thế là thường gây miễn nhiễm vĩnh viễn.

Tá dược

Tá dược là các hợp chất hóa học được bổ sung vào vắc-xin để giúp tăng cường đáp ứng miễn nhiễm của thân. Những chất này không có trong quơ các loại vắc-xin, tỉ dụ như trong các loại vắc-xin sống, chẳng hạn như vắc-xin MMR (đây là loại vắc-xin được chỉ định để tạo miễn dịch phòng 3 bệnh: sởi, quai bị và rubella cho trẻ từ 12 tháng tuổi trở lên), chúng không có mặt. Việc khám phá ra những chất này phần nhiều là ngẫu nhiên.

Khi vắc-xin được sản xuất lần đầu tiên, sự khác biệt về hiệu quả của các vắc-xin giống nhau trong các lô khác nhau đã được ghi nhận. Điều này đã được giả thuyết là do chừng độ ô nhiễm của vắc-xin; tuy nhiên, sự sạch sẽ tiếp theo của các mạch phản ứng mà chúng được sản xuất đích thực đã làm giảm hiệu quả tổng thể. Khi nó bật ra, sự ô nhiễm trong các mạch phản ứng thực thụ đã giúp tăng cường hiệu quả của vắc-xin.

thí điểm tiếp theo đã công nhận rằng một số hợp chất khăng khăng, khi được bổ sung vào vắc-xin với số lượng nhỏ, tăng cường đáp ứng miễn dịch với vắc-xin. Đặc biệt, các muối nhôm đã được tìm thấy có tác dụng đáng chú ý, và vẫn là tá dược chính được sử dụng trong vắc-xin ngày nay.

Cơ chế mà chúng tăng cường phản ứng miễn nhiễm vẫn chưa được hiểu đầy đủ, nhưng người ta cho rằng chúng giúp giữ cho thành phần hoạt tính của vắc-xin gần chỗ tiêm, dẫn đến việc nó dễ tiếp cận hơn đối với các tế bào miễn nhiễm.

Trong khi các hợp chất nhôm được sử dụng như tá dược đã được kết hợp với một số phản ứng nhỏ tại vị trí xung quanh tại chỗ tiêm, không có bằng chứng cho thấy chúng gây ra bất kỳ ảnh hưởng sức khỏe nghiêm trọng lâu dài. Khi tuân theo lộ trình vắc-xin được đề xuất, hàm lượng nhôm vẫn ở mức an toàn; vắc-xin chỉ chứa khoảng một miligam nhôm và không có chứng cứ về bất kỳ nguy cơ nào đối với con nít hoặc trẻ sơ sinh.

Các muối nhôm trong một số vắc-xin được cấp phép của Mỹ là nhôm hydroxit, nhôm photphat, phèn nhôm (kali sunfat), hoặc muối nhôm hỗn tạp. ví dụ như muối nhôm được sử dụng trong vắc-xin DTaP, đây là vắc xin liên hiệp phế cầu khuẩn và vắc-xin viêm gan B.

Chất kháng sinh

Một số chất kháng sinh có thể được sử dụng trong một số sinh sản vắc-xin để giúp ngăn ngừa nhiễm khuẩn trong quá trình sản xuất. Kết quả là, một lượng nhỏ chất này có thể có mặt trong một số vắc-xin.

do một số chất kháng sinh có thể gây phản ứng dị ứng nghiêm trọng ở những trẻ con bị dị ứng (như nổi mề đay, sưng ở cổ họng và huyết áp thấp), một số phụ huynh lo ngại rằng chúng có trong vắc xin có thể có hại. Tuy nhiên, chất kháng sinh có nhiều khả năng gây ra phản ứng dị ứng nghiêm trọng (như penicillin, cephalosporin và thuốc sulfa) không được dùng trong sinh sản vắc-xin, và do đó không được chứa trong vắc-xin.

thí dụ về kháng sinh được sử dụng trong quá trình sản xuất vắc-xin bao gồm neomycin, polymyxin B, streptomycin và gentamicin. Một số loại kháng sinh được sử dụng trong sinh sản vắc-xin có mặt trong vắc-xin, hoặc với số lượng rất nhỏ hoặc không thể phát hiện được.

Một tỉ dụ nữa về chất kháng sinh được sử dụng trong một số phương pháp sản xuất để làm vắc-xin vi-rút cúm bất hoạt. Chúng được sử dụng để làm giảm sự phát triển của vi khuẩn trong trứng trong các bước chế biến, bởi trứng không phải là sản phẩm diệt trùng. Các kháng sinh được sử dụng được giảm xuống còn rất nhỏ hoặc chẳng thể phát hiện trong các bước thanh lọc tiếp theo. Một lượng nhỏ kháng sinh còn lại chứa trong vắc-xin chưa được phối hợp rõ ràng với các phản ứng dị ứng nghiêm trọng.

Chất ổn định

Chất ổn định được thêm vào vắc-xin để bảo vệ nó khỏi các điều kiện bất lợi có thể ảnh hưởng đến hiệu quả, cho phép nó được lưu trữ trong thời gian dài hơn. Một loạt các chất ổn định khác nhau có thể được dùng; ví dụ như đường, axit amin và protein có thể được sử dụng cho mục đích này. Chúng cũng ngăn ngừa các thành phần vắc-xin bám dính vào bất kỳ bình chứa nào. Nhiều hợp chất được sử dụng như chất ổn định được tìm thấy thiên nhiên trong thân, và do đó không gây ra bất kỳ rủi ro nào.

Chất bảo quản

Chất bảo quản được sử dụng để ngăn ngừa nhiễm vi khuẩn và nấm của vắc-xin sau khi sinh sản. Điều này đặc biệt quan yếu đối với các loại vắc-xin “đa liều”, trong đó nhiều liều tiêm được rút ra từ cùng một bình cao su.

Thiomersal hợp chất chứa thủy ngân thường được dùng như một chất bảo quản trong các vắc-xin đa liều này. Nó cũng có thể là thành phần vắc-xin kiên trì bởi có nhiều tranh cãi nhất (không được điều chỉnh).

Vào năm 1998, bác sĩ nức tiếng Andrew Wakefield đã xuất bản một bài báo nhằm kết liên các vắc-xin MMR thời thơ (đối với bệnh sởi, quai bị và rubella) với mức độ tự kỷ tăng dần ở con nít. Việc công bố nghiên cứu này đã dẫn đến giảm tỷ lệ tiêm chủng ngừa ở con trẻ ở Anh, và gia tăng sự bùng phát của các bệnh có thể ngừa được.

Những cầm thẳng băng để tái tạo nghiên cứu của Wakefield không thành công. Nó cũng nổi lên rằng ông đã làm giả dữ liệu trong nghiên cứu của mình, và thực tại đã được một công ty luật thuê và trả tiền cụ thể để tìm chứng cứ cho thấy vắc-xin MMR có hại – một xung đột ích chẳng thể phủ nhận và phi đạo đức. tùng san y học Anh, điều tra tờ giấy ăn gian, thấy rằng những đứa trẻ được rà như là một phần của nghiên cứu của Wakefield, “không có trường hợp nào không được báo cáo hoặc thay đổi”.

mặc dầu vắc-xin MMR không chứa thiomersal, nhiều vắc-xin khác được sử dụng tại thời điểm đó. Thiomersal đã được loại bỏ khỏi các vắc-xin thời thơ, một phần là kết quả của nghiên cứu hoảng sợ của Wakefield được tạo ra, nhưng tỷ lệ tự kỷ vẫn nối tăng.

Cho đến nay, không có bằng chứng kết liên số lượng thiomersal tìm thấy trong vắc-xin có bất kỳ tác hại nào; trong khi thủy ngân vững chắc là một mối đe dọa đối với sức khỏe con người với số lượng đủ, nồng độ trong máu của thủy ngân sau khi tiêm vắc-xin chứa thiomersal vẫn còn trong mức an toàn được ưng.

Các hợp chất khác được sử dụng làm chất bảo quản trong vắc xin bao gồm phenol và phenoxyethanol. Một lần nữa, chừng độ của các hợp chất này có trong các liều vắc-xin không liên tưởng đến bất kỳ tác hại nào.

Thành phần vi lượng

Một số thành phần vi lượng được bỏ lại đằng sau quá trình sản xuất vắc-xin. Nồng độ của các thành phần này trong vắc-xin cuối cùng là rất thấp. Các hợp chất như formaldehyde, một trong những tác nhân có thể được sử dụng để vô hiệu hóa vi-rút, có thể được phát hiện, nhưng ở mức độ thấp hơn nhiều so với mức độ gây hại ở người.

Để so sánh, lượng formaldehyde tìm thấy trong các loại vắc-xin này nhỏ hơn 1% số lượng được tìm thấy tự nhiên trong quả lê 200 g. Formaldehyde cũng được tạo ra trong thân chúng ta một cách thiên nhiên như là một phần của sự bàn bạc chất của chúng ta, một lần nữa với số lượng lớn hơn so với những chất có trong vắc-xin.

Chất pha loãng

Vắc xin cần được pha loãng đến nồng độ cấp thiết của chúng. thường ngày, điều này sẽ được thực hiện bằng cách dùng nước tiệt trùng hoặc dung dịch nước muối.

Bài viết đến đây là hết rồi. Hy vọng bài viết này đã làm rõ các thành phần khác nhau chứa trong vắc-xin, và mục đích của chúng trong đó. Để biết thêm thông báo, các bạn có thể tham khảo thêm trên internet. Lần sau nếu bạn có dịp sử dụng chúng có một lời khuyên là: bạn nên tìm hiểu kỹ các thông tin, cũng như nhà cung cấp vắc-xin để tránh tình trạng “tiền mất, tật mang” nhé!

Hóa học đằng sau “mùi người già”

Ai rồi cũng sẽ già và tất nhiên”mùi người già” là một hiện tượng có thật. Thành phần hóa học của các phân tử tạo mùi đổi thay khi chúng ta già đi, cộng với có các nguyên tố khác ảnh hưởng đến mùi hương. Dưới đây là một đôi duyên do của “mùi người già”, lý do hóa học để thay đổi mùi và mẹo để giảm thiểu mùi hương (nếu bạn muốn).

Trong bài viết trước đây về hóa học về mùi “thơm” của thân, tôi đã trình diễn.# khá rõ hóa học đằng sau những mùi này. Bạn có thể tham khảo bài viết tại đây nhé! Tuy nhiên, đó chỉ là những mùi phổ quát của thân. Sau đây là một vài duyên cớ khác gây ra “mùi người già”:

  • Mùi thân thể đổi thay tự nhiên khi con người già đi, cộng với có những yếu tố khác góp phần vào “mùi người già”.
  • Nghiên cứu chỉ ra rằng mọi người thường không cảm thấy mùi cơ thể thiên nhiên của người cao tuổi là khó chịu.
  • Các nguyên tố khác có thể góp phần gây ra mùi cơ thể khó chịu, bao gồm dùng thuốc, bệnh tiềm tàng, chế độ ăn uống và sử dụng nước hoa.
  • Mùi thân có thể được giảm thiểu bằng cách tăng tần suất tắm và dùng chất khử mùi.

Mùi thân thể thay đổi khi chúng ta già đi

Có một số lý do vì sao các viện dưỡng lão có mùi khác với phòng tập thể dục trường trung học:

Hóa học thân đổi thay theo thời kì. Mùi hương đặc trưng can dự đến người cao tuổi là như nhau, không phân biệt sắc tộc hay văn hóa của một người. Các nhà khoa học đã tìm ra những gì đang xảy ra. Khi mọi người già đi, việc sinh sản axit béo trong da tăng lên trong khi sinh sản chất chống oxy hóa giảm. Các axit béo không bão hòa đa hoàn bị oxy hóa, thỉnh thoảng làm tăng lượng hóa chất gọi là 2-nonenal.

Nonenal là một aldehyd không bão hòa được biết đến với mùi hương cỏ, béo ngậy. Một số nhà nghiên cứu đã không phát hiện 2-nonenal, nhưng đã tìm thấy mức độ cao hơn của các chất hữu cơ hôi thối như nonanal, dimethylsulfone và benzothiazole trong mùi thân thể của các đối tượng lớn tuổi.

Bệnh tật và thuốc đổi thay mùi của một người. Người già có nhiều khả năng dùng thuốc hơn người trẻ tuổi. Cả tình trạng sức khỏe tiềm tàng và thuốc có thể ảnh hưởng đến mùi cơ thể. ví dụ như, việc sử dụng tỏi hoặc hành lá có thể ảnh hưởng đến mùi.

Mùi cơ thể là tác dụng phụ của bupropion hydrochloride (Wellbutrin); leuprolide acetate (Lupron), được sử dụng để hạn chế sản xuất hormone; topiramate (Topamax), được dùng để điều trị động kinh và co giật; và omega-3-acid ethyl ester (Lovaza), được dùng để giảm mức độ mỡ trong máu. Một số loại thuốc làm tăng tỷ lệ ra mồ hôi, bao gồm cả thuốc chống viêm không steroid (NSAIDS), thuốc chống trầm cảm và codein sulfate. Các điều kiện y tế ảnh hưởng đến mùi thân thể bao gồm tiểu đường, cường giáp, bệnh gan, bệnh thận, mãn kinh và tâm thần phân liệt.

Người già có thể tắm và thay quần áo ít liền hơn. Một người già có thể cần được giúp đỡ khi tắm, sợ ngã trên sàn nhà tắm trơn bóng hoặc cảm thấy đau khi đi vào bồn tắm.

Cảm giác về mùi, giống như các cảm quan khác, suy giảm theo tuổi tác. thành ra, một người lớn tuổi có thể không tự nhận ra mùi khó chịu hoặc có thể sử dụng một lượng nước hoa hoặc nước hoa có mùi khó chịu.

Vệ sinh răng miệng ảnh hưởng đáng kể đến mùi của một người. Khi chúng ta già đi, miệng tiết ra ít nước miếng, làm giảm khả năng phòng thủ tự nhiên tốt nhất chống lại hôi miệng. Bệnh nha chu (nướu răng) phổ thông hơn ở người lớn tuổi, cũng góp phần gây ra chứng hôi miệng. Răng giả và cầu răng có thể giữ lại vi khuẩn và nấm, dẫn đến nhiễm trùng và mùi mốc.

Quá trình lão hóa ảnh hưởng đến khả năng cảm nhận sự mất nước của chúng ta. Khi tuyến yên gửi tín hiệu yếu hơn cho quá trình khát, người già có thiên hướng uống ít nước hơn. Mất nước dẫn đến mồ hôi và nước giải có mùi mạnh hơn và có thể khiến da phát triển mùi do sự bong tróc của các tế bào khô.

Người già có xu hướng có đồ cũ hơn, có tức thị tài sản của họ đã có thời kì để phát triển mùi. Nếu bạn bị bao quanh bởi những đồ vật có mùi cũ, bạn mang theo một số mùi hương của chúng. Điều này quá hiển nhiên đúng không?

vì sao hóa học của cơ thể lại thay đổi?

Có thể là do sự tiến hóa mà mùi thay đổi khi một người già đi. Theo Johan Lundström, một nhà thần kinh học cảm giác tại trọng điểm cảm biến hóa học Monell, con người sử dụng mùi hương để tìm bạn tình, xác định họ hàng và tránh người bệnh. Lundström và nhóm của ông đã thực hiện một nghiên cứu cho thấy mọi người có thân xác định tuổi của một người chỉ dựa vào mùi thân thể.

thử nghiệm cũng tìm thấy mùi liên hệ đến tuổi già (tuổi từ 75 đến 95) được coi là ít khó chịu hơn so với những người từ tuổi đứng tuổi và người tiết nhiều mồ hôi. Mùi của ông già được coi là “tốt nhất”. Mùi của đàn bà lớn tuổi (“mùi bà già”) được đánh giá là kém dễ chịu hơn so với nữ giới trẻ.

Một kết luận hợp lý của nghiên cứu này, sẽ là mùi hương của những người đàn ông lớn tuổi hoạt động như một loại lăng xê không lời cho một người bạn đời, được chứng minh là có gen có khả năng sống sót cao. Mùi hương của một người phụ nữ lớn tuổi có thể đánh dấu cô ấy đã qua quá trình sinh đẻ trong quá vãng. Tuy nhiên, các đối tượng thể nghiệm đã phản ứng trung tính với mùi cơ thể từ vớ các nhóm tuổi, do đó, những đổi thay sinh hóa thiên nhiên không tạo ra mùi thơm khó chịu.

Vậy làm thế nào để hết “mùi người già”?

Hãy nhớ rằng, mùi thân thiên nhiên của một người già không được coi là phản cảm! Nếu một người già hôi thối, có nhẽ là do một trong những yếu tố góp phần khác.

Tăng cường để ý đến vệ sinh cá nhân chủ nghĩa và tăng lượng nước uống là đủ để giải quyết mùi khó chịu ở một cá nhân khỏe mạnh. Tuy nhiên, nếu mùi của một người thực sự là khó chịu, có thể có một căn nguyên y tế tiềm tàng. Một chuyến đi đến thầy thuốc và nha sĩ có thể theo thứ tự, cùng với việc xem xét các loại thuốc có thể ảnh hưởng đến mùi thân.

Có những sản phẩm đích thực được bán trên thị trường đặc biệt để giải quyết “mùi người già”. Ở Nhật Bản, mùi thậm chí còn có tên riêng: Kareishu. Công ty mỹ phẩm Shiseido Group có một dòng nước hoa nhằm mục đích trung hòa nonenal. Mirai Clinicical cung cấp xà phòng và sữa tắm có chứa chiết xuất huê hồng, có chứa tannin khử mùi thiên nhiên. Một cách khác để chống lại các aldehyd có mùi khác và là ngăn chặn quá trình oxy hóa axit béo, bằng cách sử dụng một loại kem dưỡng, giữ ẩm cho da và bổ sung chất chống oxy hóa.

Trên đây là một lý do cũng như sự đổi thay hóa học của cơ thể khi chúng ta già đi. Đều này làm cho thân có mùi không “thơm” chút nào. nhòm bài viết sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong tương lai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy dạn dĩ giải đáp và nhớ về hóa học đằng sau nhé!

Tham khảo Thoughtco , Wikipedia , Healthline Livescience .

Hóa học đằng sau hormon thai kỳ

Mang thai là điều vô cùng thiên liêng của các bà mẹ nói riêng và gia đình nói chung. Trong quá trình này, cơ thể của người mẹ thay đổi rất nhiều từ tâm sinh lý, thể chất… Một trong số đó góp phần quan trọng nhất trong sự hình thành của bào thai là các hormon. Chúng giúp cho sự phát triển của em bé, tuy nhiên không phải lúc nào chúng cũng có tác dụng dễ chịu lắm đâu.

Trong bài viết lần này, chúng ta sẽ tìm hiểu về hóa học đằng sau hormon thai kỳ cũng như những điều khích xung quanh chủ đề này nhé!

Giới thiệu

Sự thăng bằng chuẩn xác của các hormon là cấp thiết cho một thai kỳ thành công. Hormone đóng vai trò là cơ quan truyền tin hóa học của cơ thể, gửi thông tin và phản hồi lại giữa các mô và cơ quan khác nhau. Hormon di chuyển khắp thân thể, thường qua máu và gắn vào protein trên các tế bào gọi là thụ thể (receptor) – giống như một chiếc chìa khóa vừa với ổ khóa hoặc tay vừa với găng tay.

Để đáp ứng với điều này, mô hoặc cơ quan đích đổi thay chức năng của nó để quá trình mang thai được duy trì. ban sơ, buồng trứng và sau đó là nhau thai là nhà sản xuất chính các hormone liên quan đến thai kỳ, rất cần thiết trong việc tạo và duy trì các điều kiện chính xác cấp thiết để mang thai thành công.

Sau khi thụ thai, một phôi thai mới phải báo hiệu sự hiện diện của nó với người mẹ, cho phép cơ thể của bà ấy xác định bắt đầu mang thai. Khi trứng được thụ tinh, nó chuyển di qua đường sản xuất nữ và vào ngày thứ sáu cấy vào tử cung sẽ tiết ra một loại hormone gọi là human chorionic gonadotropin (gọi tắt là hCG) trong quá trình này. Hormone này đi vào tuần hoàn của mẹ và cho phép người mẹ nhận ra phôi thai và bắt đầu thay đổi cơ thể để tương trợ mang thai.

hCG ở người có thể được phát hiện trong nước giải sớm nhất là 7-9 ngày sau khi thụ tinh và được dùng như một chỉ số mang thai trong hầu hết các xét nghiệm mang thai không kê đơn. Nó chịu một phần bổn phận cho việc đi tiểu thường xuyên của đàn bà mang thai trong ba tháng trước nhất.

Điều này là do mức độ hCG ở người tăng lên khiến cho máu chảy nhiều hơn đến vùng xương chậu và thận, khiến thận loại bỏ chất thải nhanh hơn trước khi mang thai. hCG đi qua máu mẹ đến buồng trứng để điều chỉnh mức độ của các hormon tiền sản, estrogen và progesteron.

Sau đây, chúng ta sẽ tìm hiểu về 6 loại hormon thai kỳ quan yếu nhé!

1. hCG

hCG là một hormon quan trọng trong thời đoạn đầu của thai kỳ. Nó được sinh sản bởi nhau thai sau khi cấy ghép, và hỗ trợ chức năng của hoàng thể. Hoàng thể là một cấu trúc trợ thời trong buồng trứng tạo ra các hormon mấu chốt khác trong thời kỳ đầu mang thai.

hCG cũng là hormon được phát hiện bởi các xét nghiệm mang thai. Nồng độ của nó tăng lên từ lúc thụ thai và đạt đỉnh 8 – 11 tuần. Trong vài ngày đầu sau khi thụ thai, chừng độ của nó quá thấp để phát hiện bằng các xét nghiệm mang thai, nhưng sau khi cấy ghép, chừng độ của nó tăng gấp đôi cứ sau 48 giờ. Bạn có thể tìm hiểu thêm bài viết về hóa học đằng sau que thử thai tại đây để biết thêm nhé!

2. Progesterone

Trong những tuần đầu của thai kỳ, hoàng thể sinh sản progesteron. Sau 8-12 tuần, nhau thai tiếp quản.

Progesteron kích thích sự phát triển của các huyết mạch cung cấp niêm mạc tử cung. Nó cũng kích thích lớp lót giải phóng chất dinh dưỡng, cung cấp dinh dưỡng cho phôi sớm. Ngoài ra, progesteron ức chế sự co bóp của cơ trơn của tử cung để nó phát triển thành em bé.

Nồng độ progesteron tiếp tăng khi quá trình mang thai diễn ra. Cùng với estrogen, nó thúc đẩy sự phát triển của mô vú và sự phát triển của tuyến sữa. Progesteron ngăn ngừa tiết sữa khi mang thai, chỉ bắt đầu khi mức độ giảm sau khi sinh. Hormon này cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị cho việc sinh đẻ: nó tăng cường các cơ thành chậu cấp thiết cho quá trình chuyển dạ.

Việc nhận thấy sự tăng trưởng tóc khi mang thai? Điều đó cũng do progesteron!

3. Estrogen

Cũng giống như progesteron, hoàng thể sinh sản estrogen trong tuổi đầu của thai kỳ trước khi nhau thai tiếp quản. Estrogen thực thụ là một nhóm hội tụ các hợp chất na ná: oestron, oestradiol và oestriol.

Estrogen giúp tử cung phát triển và duy trì lớp lót. Nó tương trợ sự phát triển của thai nhi, bao gồm sự phát triển của các cơ quan và hệ thống thân. Nó cũng kích hoạt và điều chỉnh việc sinh sản các hormon thai kỳ quan yếu khác.

4. Prolactin

Prolactin là hormon chính cần thiết để kích hoạt sản xuất sữa mẹ. Nó mở mang các tuyến vú để chuẩn bị cho điều này (mặc dù như mức progesteron đã lưu ý trước đó giúp ngăn chặn sự tiết sữa cho đến khi em bé được sinh ra).

Prolactin có các vai trò khác không liên tưởng đến sản xuất sữa. Nó góp phần vào sự phát triển của phổi và não của thai nhi, và cũng là hệ thống miễn nhiễm của mẹ dung nạp cho thai nhi.

5. Relaxin

mức độ relaxin cao nhất trong ba tháng đầu của thai kỳ, nhưng nó có mặt trong suốt quá trình. Nó có một số vai trò, bao gồm cấm co bóp cơ tử cung để ngăn ngừa sinh non.

Tên relaxin cho thấy một vai trò quan yếu hơn. Nó làm thư giãn các huyết quản, tăng lưu lượng máu đến nhau thai và thận. Điều này giúp thân thể mẹ ứng phó với nhu cầu oxy và chất dinh dưỡng từ em bé đang phát triển tăng lên.

Relaxin cũng giúp thân thể mẹ chuẩn bị sinh. Nó làm thư giãn các khớp trong khung chậu và làm mềm và mở mang cổ tử cung để giúp việc sinh nở dễ dàng hơn.

6. Oxytocin

Oxytocin chỉ xuất hiện với số lượng đáng kể vào cuối thai kỳ, dù rằng nó có mặt với số lượng thấp hơn trước đó. mức độ của nó tăng lên khi bắt đầu chuyển dạ, gây ra các cơn co thắt.

Ảnh hưởng phụ của các hormon thai kỳ

Nồng độ progesteron và estrogen cao rất quan yếu cho một thai kỳ khỏe mạnh nhưng thường là duyên do gây ra một số tác dụng phụ không mong muốn phổ thông ở người mẹ, đặc biệt là khi chúng tác động lên não. Cho đến khi cơ thể mẹ thích ứng với chừng độ cao hơn của các hormon này, sự đổi thay tâm trạng có thể rất phổ quát. đa số phụ nữ sẽ bị ốm nghén – cảm giác buồn nôn, bất cứ lúc nào trong ngày, có thể dẫn đến nôn mửa.

căn do chuẩn xác của ốm nghén vẫn chưa được biết nhưng có khả năng là do sự gia tăng nhanh chóng của: estrogen và progesteron; hCG ; hoặc một loại hormon tuyến giáp có can dự chém được gọi là hormon kích thích tuyến giáp giảm trong thời kỳ đầu mang thai, dù rằng nó có thể được gây ra bởi sự phối hợp của toàn bộ những thay đổi nội tiết tố này. Ốm nghén thường bắt đầu vào khoảng tuần 5-6 của thai kỳ và sẽ giảm dần vào tuần 12-16, mặc dầu một số nữ giới phải chịu đựng trong suốt thai kỳ.

Nhiều nữ giới cảm thấy đau và khó chịu ở xương chậu và lưng dưới trong ba tháng đầu. Điều này cốt yếu là do một loại hormon gọi là relaxin. Relaxin có thể phát hiện vào tuần 7-10 và được sinh sản trong suốt thai kỳ. Hormon này giúp thư giãn các cơ, khớp và dây chằng của mẹ để nhường chỗ cho em bé đang lớn.

Tác dụng của relaxin tập hợp nhiều nhất ở vùng xương chậu; làm mềm các khớp xương chậu thường có thể dẫn đến đau ở khu vực này. Các khớp mềm hơn cũng có thể làm giảm sự ổn định và một số phụ nữ có thể nhận thấy nó khó thăng bằng hơn. Ngoài ra còn có sự gia tăng táo bón liên hệ đến giảm chuyển động đường ruột vì relaxin và sự phát triển của thai nhi.

dù rằng đôi khi không thoải mái và bực bội, tuốt tuột những tác dụng phụ này thường sẽ giảm bớt hoặc thậm chí giảm dần vào cuối tuần 12 của thai kỳ.

Trên đây là một vài điều khích về hormon thai kỳ. ngó sẽ giúp ích cho các bạn trong mai sau. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Yourhormones , Compound Interest EVA .

Hóa học của mẹ và con

Chủ đề về mẹ là chủ đề xuất hiện rất nhiều trong thơ ca. Tuy nhiên để nói về hóa học của mẹ và con thì không phải ai cũng hiểu. Nhân ngày của mẹ 12/5, blog sẽ đề cập về chủ đề này như một lời cảm ơn tâm thành của những người con đối với mẹ của mình.

Đôi nét

Trước khi đi vào nội dung chính của bài chúng ta hãy quay về quá khứ một tí nhé! Có thể 10 năm, 20 năm hay cả một thế kỷ từ lúc chúng ta chào đời, cất tiếng khóc trước tiên. Vào thời khắc đó thì chúng ta chỉ là những đứa trẻ, cần được chăm chút và bảo vệ hoàn toàn. May mắn thay, chúng ta được sinh ra với tất các dụng cụ cấp thiết và chỉ dẫn trực tiếp để đạt được sự săn sóc và trở thành một phần thương xót của gia đình và tầng lớp.

Các tương tác thần kinh và nội tiết được cung cấp cho ba má và con cái để tương trợ trong quá trình này là một trong những sức mạnh của tự nhiên. Các dấu hiệu nội tiết tố rõ ràng và bản năng của chúng ta có thể cung cấp tuốt luốt các phản ứng thích hợp. Nếu không nỗ lực khôn xiết để tránh và bỏ qua những lời giục giã đó, bố mẹ sẽ tự nhiên làm theo lời khuyên của các tế bào thần kinh và hormone, nuôi dưỡng bạn và duy trì sự gần gụi về thân xác.

Khi được sinh ra, các hệ thống kiểm soát nội tiết tố và các khớp tâm thần của bạn bắt đầu tổ chức vĩnh viễn theo các tương tác của con người mà bạn qua. Các thụ thể não không cấp thiết và các con đường tâm thần được xử lý, trong khi những người hạp với môi trường nhất thiết được tăng cường.

Nghe có vè xì xằng nhưng bạn sẽ hiểu nhanh thôi với những nội dung sau đây:

Oxytocin: Một hoocmon liên kết

Oxytocin là một sứ giả hóa học được tạo ra trong não đốn để đáp ứng với xúc tiếp xã hội, nhưng sự phóng thích của nó đặc biệt rõ rệt với sự xúc tiếp giữa da với da. Ngoài việc cung cấp các lợi. sức khỏe, chất này giống như hoóc môn thúc đẩy các mô hình kết liên và tạo ra mong muốn xúc tiếp với các cá nhân kích hoạt sự phát hành của nó.

Khi quá trình này không bị gián đoạn, oxytocin là một trong những phương tiện chính của bản chất để tạo ra một người mẹ. Được cung cấp bởi nồng độ estrogen cao (hoóc môn nữ) khi mang thai, số lượng thụ thể oxytocin trong não mẹ mong đợi sẽ nhân lên đáng kể vào cuối thai kỳ. Điều này làm cho người mẹ mới phản ứng cao với sự hiện diện của oxytocin. Những thụ thể này tăng lên trong phần não của bà ấy thúc đẩy hành vi của người mẹ.

Đợt tăng oxytocin quan yếu đầu tiên là trong quá trình chuyển dạ. Nếu việc sinh mổ là cấp thiết, cho phép chuyển dạ xảy ra đầu tiên sẽ cung cấp một số sự gia tăng hormone liên kết này (và giúp bảo đảm một đợt kháng thể rốt cuộc cho em bé qua nhau thai). Đi qua kênh sản xuất làm tăng thêm nồng độ oxytocin ở cả mẹ và bé.

Oxytocin cao khiến người mẹ trở thành thân thuộc với mùi độc đáo của trẻ lọt lòng, và một khi bị cuốn bởi nó, thích mùi bé con của chính mình hơn tuốt tuột những người khác. Bé cũng hao hao như dấu ấn của mẹ, tạo ra cảm giác bình tĩnh và giảm đau cùng với mẹ. Khi đứa trẻ được sinh ra, chúng đã in dấu mùi nước ối. Dấu ấn mùi này giúp chúng tìm thấy núm vú mẹ, có mùi hao hao nhưng hơi khác. Trong những ngày sau khi sinh, trẻ lọt lòng có thể được yên ủi bởi mùi của chất lỏng này.

Dần dần trong những ngày tiếp theo, bé bắt đầu thích mùi của mẹ, nhưng nối in dấu lên mẹ không liên tưởng đến thực phẩm. Trên thực tiễn, trẻ lọt lòng bú sữa công thức bị thu hút nhiều hơn (trong các thể nghiệm trong phòng thí điểm) đối với mùi vú mẹ của mẹ so với sữa công thức, thậm chí hai tuần sau khi sinh.

Bằng cách ảnh hưởng đến hành vi của người mẹ và kích thích sữa, hãy giảm xuống (cho phép sữa chảy) trong khi cho con bú, oxytocin giúp những nắm đầu tiên khi cho con bú trở nên thiên nhiên. nuốm chăm chút trong giờ trước tiên sau khi sinh khiến oxytocin tăng đến mức đặc biệt ở cả mẹ và bé. Các bà mẹ trì hoãn chăm nom mất một phần hormone cao rút cuộc được cung cấp ngay sau khi sinh. Dấu ấn ban sơ mạnh mẽ cho mẹ và bé dự định sẽ xảy ra chủ yếu để mẹ và bé có thể tìm và nhận ra nhau trong những giờ và ngày sau khi sinh.

Tuy nhiên, một cơ hội trọn đời để gắn kết và tình không bị mất nếu cửa sổ ban đầu này bị bỏ lỡ. Sau khi sinh, mẹ đấu sinh sản nồng độ oxytocin tăng cao do hậu quả của việc nuôi dưỡng và bế trẻ, và chừng độ dựa trên lượng tiếp xúc như vậy. Tình trạng nội tiết tố này cung cấp một cảm giác bình tĩnh và hạnh phúc. Nồng độ oxytocin cao hơn ở những bà mẹ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ so với những người dùng bình sữa bổ sung. Dưới ảnh hưởng ban đầu của oxytocin, các mối nối thần kinh ở một số khu vực một mực trong não của mẹ thực thụ trải qua quá trình tái tổ chức, do đó làm cho các hành vi của mẹ trở nên khó khăn.

Chừng nào còn xúc tiếp với trẻ sơ sinh, oxytocin khiến mẹ phải quan hoài nhiều hơn, phấn khởi hơn để làm hài lòng người khác, trở nên mẫn cảm hơn với những cảm giác khác của người khác và dễ dàng nhận ra tín hiệu phi ngôn ngữ hơn. tiếp chuyện trông nom cũng tăng cường hiệu quả này. Với lượng oxytocin cao, các ưu tiên của người mẹ đã bị đổi thay và não của bà không còn báo hiệu phải chải chuốt và điểm tô cho mình để có được một người bạn trăm năm, và do đó mang thai.

hiện giờ đứa trẻ đã được tạo ra, lề thói chải chuốt của mẹ hướng đến bé. Oxytocin cao ở đàn bà cũng đã được chứng minh là xúc tiến sự ưa thích đối với bất cứ điều gì nam giới có mặt trong quá trình tăng vọt của nó. Oxytocin cao kéo dài ở mẹ, cha hoặc em bé cũng xúc tiến áp huyết thấp hơn và giảm nhịp tim cũng như một số loại tu chỉnh động mạch, thực sự làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim suốt đời.

mặc dầu em bé tự tạo ra oxytocin để đáp ứng với việc cho con bú, mẹ cũng chuyển nó cho trẻ sơ sinh bằng sữa. Quy định này phục vụ để thúc đẩy thư giãn liên tiếp và gần gũi cho cả mẹ và bé. Một sự giải phóng oxytocin đổi thay nhiều hơn được thấy ở trẻ bú bình, nhưng chắc chắn cao hơn ở trẻ lọt lòng bú sữa mẹ trong vòng tay của ba má thay vì dùng bình sữa.

Sự xúc tiếp thân thể liền tù tù liên tục và các hành động nuôi dưỡng khác của cha mẹ tạo ra mức oxytocin liên tiếp, tăng cao ở trẻ sơ sinh, từ đó giúp giảm đáng kể các phản ứng hoóc môn bít tất tay của trẻ sơ sinh. Nhiều nghiên cứu tâm lý đã chứng minh rằng, tùy thuộc vào thực tại của ba má, chừng độ oxytocin cao hay thấp sẽ kiểm soát tổ chức vĩnh viễn của phần xử lý găng tay trong não của em bé – xúc tiến các đặc điểm an toàn ở thanh thiếu niên và người lớn. Các đặc điểm không an toàn như vậy bao gồm hành vi chống đối tầng lớp, khiêu hấn, khó hình thành mối kết liên lâu dài với bạn đời, bệnh tâm thần và xử lý găng kém.

Khi trẻ lọt lòng không được chăm nom đáp ứng sản xuất oxytocin thẳng, các phản ứng găng kết quả sẽ làm tăng nồng độ hormone găng cortisol. Tăng cortisol mạn tính ở trẻ sơ sinh và điều chỉnh nội tiết và chức năng đi kèm với nó, được biểu lộ trong các nghiên cứu sinh hóa có can dự đến đổi thay não vĩnh viễn dẫn đến phản ứng tăng lên đối với bít tất tay trong thế cục, như huyết áp và nhịp tim cao hơn. Các bà mẹ cũng có thể được hưởng lợi từ tác dụng giảm găng của oxytocin – đàn bà cho con bú sinh sản hormone gây găng ít hơn đáng kể so với những người cho con bú bằng sữa bình.

Những người cha cũng không rời khỏi phương trình oxytocin. Nó đã được chứng minh rằng một người cha sống ở chừng độ oxytocin gia tăng trong tuổi cuối của thai kỳ bạn trăm năm của mình. Khi người cha dành thời kì đáng kể để tiếp xúc với con, oxytocin khuyến khích ông ta tham dự nhiều hơn vào việc chăm nom liên tục trong một chu kỳ tự kéo dài. Oxytocin ở người cha cũng làm tăng sự quan tâm của ông ta đối với sự tiếp xúc về thân xác (không nhất định là dục tình) với người mẹ. thiên nhiên hiện cung cấp một cách để người cha trở nên quan tâm hơn khi trở thành một phần tận tụy và chấp nhận của bức tranh gia đình ưng chuẩn sự can dự của ông ấy với em bé.

Với tất sức mạnh của mình, oxytocin là một trong nhiều danh sách nhiều hóa chất mà thiên nhiên dùng để bảo đảm em bé tìm thấy tình và sự chăm chút mà mình cần.

Vasopressin & Bảo vệ

mặc dầu có mặt và hoạt động trong quá trình gắn kết ở mẹ và trẻ sơ sinh, vasopressin đóng vai trò lớn hơn nhiều ở người cha. Hormone này thúc đẩy tái tổ chức não đối với các hành vi của người cha khi đàn ông sống chung với người mẹ mang thai. Người cha trở nên tận tụy hơn với người bạn đời của mình và tả những hành vi bảo vệ.

phóng thích để đáp ứng với sự gần gũi và xúc giác, vasopressin thúc đẩy sự gắn kết giữa người cha và người mẹ, giúp người cha nhận ra và gắn kết với con mình, và khiến ông ta muốn trở thành một phần của gia đình, thay vì một mình. Nó đã đạt được tiếng tăm là hoóc môn một vợ một chồng. Tiến sĩ Theresa Crenshaw, tác giả của cuốn Alchemy of Love and Lust, nói rằng: “Testosterone muốn rình mò, vasopressin muốn ở nhà. lái xe”.

Vasopressin củng cố xu hướng bảo vệ được thúc đẩy bởi testosterone liên quan đến người bạn đời và đứa con, nhưng cản ngăn sự hung hăng, khiến ông ta hợp lý hơn và ít cực đoan hơn. Bằng cách xúc tiến suy nghĩ hợp lý và ít thất thường hơn, hormone này tạo ra vai trò làm cha hợp lý, mang lại sự ổn định cũng như cảnh giác.

Prolactin & Hành vi

Prolactin được phóng thích ở bít tất những người khỏe mạnh trong khi ngủ, giúp duy trì cơ quan sinh sản và chức năng miễn nhiễm. Ở người mẹ, prolactin được giải phóng để đáp ứng với việc bú, xúc tiến sản xuất sữa cũng như các hành vi của mẹ. Prolactin làm mẹ thư giãn, và trong những tháng đầu, tạo ra một tẹo mỏi mệt trong một buổi coi sóc để bà ấy không có ham muốn mạnh mẽ để nhảy lên và làm những việc khác.

Prolactin thúc đẩy các hành vi săn sóc và theo thời gian, chỉ đạo tổ chức lại não để ủng hộ những hành vi này. Nồng độ prolactin của cha bắt đầu tăng lên trong thời kỳ mẹ mang thai, nhưng hầu hết sự gia tăng ở nam giới xảy ra sau nhiều ngày chung sống với trẻ sơ sinh.

Đây là kết quả của việc tái tổ chức não được điều hòa nội tiết tố trong thời gian làm ba má, mô hình giải phóng prolactin bị đổi thay. Nó đã được chứng minh rằng những người cha phóng thích prolactin để đối phó với các mối đe dọa xâm nhập, trong khi những người đàn ông không có con thì không. Mặt khác, các bà mẹ cho con bú không tiết ra prolactin để đáp ứng với tiếng ồn lớn, trong khi nhưng người không có con lại có. Ở trẻ con và không có bố mẹ, tăng prolactin có liên quan đến mức độ bao tay, vì thế nó thường được coi là một hormone găng tay. Ở ba má, nó phục vụ như một hormone bố mẹ.

Nồng độ prolactin tăng cao ở cả bà mẹ cho con bú và người cha có can hệ gây ra một số sự giảm nồng độ testosterone của họ, do đó làm giảm thèm muốn dục tình của họ. Khả năng sản xuất của họ cũng có thể giảm trong một thời kì. Việc giảm hoạt động dục tình và khả năng sản xuất này hoàn toàn do thiết kế vì ích của trẻ lọt lòng, cho phép sự chú ý và năng lượng của bác mẹ dồi dào. Khi người cha có quan hệ khăng khít với trẻ lọt lòng cùng với người mẹ, cần có một sự thỏa thuận giữa mong muốn của hai người, và oxytocin và các hóa chất khác cung cấp cho mối quan hệ gắn bó và quan tâm phi dục tình với nhau, để giữ lại một giây chăm sóc tận tâm cho trẻ sơ sinh.

Opioids & Phần thưởng

Opioids (hormone khoái cảm) là các hóa chất giống morphin tự nhiên được tạo ra trong cơ thể chúng ta. Chúng làm giảm nhận thức đau và tạo cảm giác háo hức. Các mối quan hệ tầng lớp, đặc biệt là sự đụng chạm – đặc biệt là giữa ba má và con cái – gây ra sự giải phóng opioid, tạo ra cảm giác tốt sẽ tăng cường liên kết. Mùi, vị, hoạt động và thậm chí cả sở thích có thể phát triển do kết quả của việc giải phóng opioid trong các lần tiếp xúc dễ chịu, và chung cuộc, cảnh tượng của một người nhà yêu mặt kích thích sự dâng trào. Opioid được phát hành trong não trẻ thơ như một phản ứng có điều kiện đối với những cái ôm và nụ hôn rét mướt của ba má có thể có hiệu quả để giúp giảm đau do ngã hoặc thất vọng.

ba má học hỏi và tận hưởng các hoạt động hữu dụng như cho con bú và giữ trẻ, và trẻ sơ sinh học cách học để tận hưởng sự xúc tiếp như được bế, mang và đá, sờ soạng như là một phản ứng với việc phát hành opioid. Em bé cần sữa, và opioids là phần thưởng thiên nhiên dành cho chúng để có được nó, đặc biệt là trong những lần thử trước hết. một đôi tập đầu tiên của việc mút tổ chức các con đường thần kinh trong não trẻ lọt lòng, điều hòa cho bà ấy tiếp kiến hoạt động này.

Đây là lý do mà trẻ lọt lòng bú sữa mẹ đôi khi gặp rắc rối nếu chúng được cho bú bình trong nhà trẻ sơ sinh – việc xúc tiếp sớm với bình sữa tạo ra mối liên can khó hiểu với cả núm vú bình sữa và vú mẹ. Trong thực tại, bất kỳ cảm giác ngẫu nhiên nào có được trong quá trình lắc lư, chạm và ăn mà không độc hại có thể trở nên một phần cảm giác của trẻ nít và sẽ mang lại sự thoải mái. Đó có thể là sự rét mướt của cơ thể mẹ, bộ ngực lông của cha, bà ru ngủ nhẹ nhõm, một tấm chăn hay mặt gỗ của một chiếc giường cũi.

Sự tăng cao của prolactin ở bố mẹ kèm theo sẽ kích thích hệ thống opioid, nâng cao phần thưởng cho các mối quan hệ gia đình thân tình, xót thương, có thể hơn vớ. Cũng giống như với codein và morphin, khả năng dung nạp opioid thiên nhiên có thể xảy ra.

Norepinephrine & Học tập

Nuôi con bằng sữa mẹ cũng khiến dopamine và sản phẩm của nó, norepinephrine (adrenaline), được sản xuất, giúp duy trì một số tác động của kết liên sớm. Chúng tăng cường năng lượng và sự tỉnh táo cùng với một số niềm vui của sự gắn bó.

Norepinephrine giúp tổ chức hệ thống kiểm soát găng trẻ lọt lòng, cũng như các biện pháp kiểm soát nội tiết quan trọng khác hợp với bản tính của các trải nghiệm nuôi dưỡng sớm. Nó xúc tiến việc học về môi trường – đặc biệt là học bằng cách ghi nhớ được thực hành bởi oxytocin, opioids và các ảnh hưởng hóa học khác.

Pheromone & Bản năng căn bản

Làm thế nào để cơ thể người đàn ông có thể biết để bắt đầu thay đổi nội tiết tố khi ông ta sống với một nữ giới mang thai? Làm thế nào một đứa trẻ sơ sinh có thể giảng giải xác thực về mẹ của mình. Câu đáp là pheromone . Trong số những thứ khác, pheromone là hormone steroid được tạo ra trong da của chúng ta. cơ thể của chúng ta được lập trình theo bản năng để phản ứng thích hợp khi chúng ta phát hiện ra các pheromone này xung quanh chúng ta.

Trẻ sơ sinh nhạy cảm với pheromone hơn nhiều so với người lớn. Không thể đáp ứng với lời nói hoặc nhiều tín hiệu khác, rõ ràng chúng phụ thuộc vào ý thức nguyên thủy này điều khiển phần đông hành vi của động vật bậc thấp. Rất có thể việc in dấu ban đầu của bé lên mùi và pheromone không chỉ là vấn đề thích mùi của bố mẹ, mà là cách tự nhiên kiểm soát tổ chức não và phóng thích hormone để bé thích nghi tốt nhất với môi trường.

Những tuổi đầu tiên của bé, hồ hết các trải nghiệm nguyên thủy sau đó được liên kết với các khả năng cao hơn như nhận diện khuôn mặt và cảm xúc. chuẩn y những điều này, bé rất có thể học cách nhận thức mức độ găng tay ở những người coi ngó xung quanh mình, chẳng hạn như khi mẹ đang trải qua nỗi sợ hãi hoặc niềm vui. Một phần của sự thống khổ của trẻ lọt lòng vì sự chia ly có thể do các dấu hiệu của ba má bị mất về sự an toàn của môi trường của bà ấy. cố nhiên, cảm giác cơ bản khác mà trẻ lọt lòng phản ứng tốt là xúc giác, và thật trùng hợp, mùi thân và pheromone chỉ có thể được cảm nhận khi mọi người ở rất gần nhau.

Đáng buồn thay, trong thế kỷ qua, các bậc cha mẹ đã được các chuyên gia giáo dục ngành giáo dục khuyến khích, bỏ qua mọi bản năng của họ để đáp ứng với những bài học nuôi dạy con mạnh mẽ. Các nhà tâm lý học, nhà tâm thần học và nhà hóa sinh hiện đã xác nhận điều mà nhiều người trong chúng ta nghi theo bản năng: rằng nhiều phần thưởng của việc làm bố mẹ đã bị bỏ lỡ trên đường đi, và các đời con nít có thể đã bỏ lỡ những lợi thế quan trọng suốt đời.

Trên đây là những điều ưa về hóa học của mẹ và con. mong sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong mai sau. Lần sau nếu có ai hỏi về vấn đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Linda F. Palmer .

Hóa học của chạy marathon

Còn chưa đầy 24 giờ nữa là giải chạy marathon của Vnexpress 2019 sẽ diễn ra ở Quy Nhơn, Bình Định vào ngày 9/6. Đây được xem như giải được mong chờ nhiều nhất trong năm ở Việt Nam do đường chạy này đã đạt được chứng nhận bởi tổ chức quốc tế IAAF/ AIMS (Liên đoàn Điền kinh Thế giới / Hiệp hội Marathon Quốc tế). Điều này đồng nghĩa kết quả tại VnExpress Marathon 2019 có thể được dùng để đăng ký các giải chạy lớn tầm cỡ thế giới như Boston Marathon, Chicago Marathon, London Marathon, Tokyo marathon, New York City Marathon và Berlin Marathon.

Vậy điều gì sẽ xảy ra đối với cơ thể khi chạy marathon? Câu giải đáp này bạn có thể tham khảo trong các sách hướng dẫn về việc chạy cũng như những mẹo xung quanh. Tuy nhiên, khi nói đến hóa học diễn ra trong quá trình chạy thì không phải ai cũng biết. bởi vậy, trong bài viết bữa nay chủ để của chúng ta sẽ đề cập về chủ đề này nhé!

Lịch sử về marathon

Theo wikipedia thì marathon là một cuộc đua chạy bộ đường trường với chiều dài chính thức là 42,195 km. Sự kiện này được đặt theo một câu chuyện ngụ ngôn về một chiến binh Hy Lạp tên là Pheidippides, một người đưa thư đã chạy từ nơi diễn ra trận chiến Marathon tới thành Athena. Tính chính xác về lịch sử của nhân vật này vẫn còn gây tranh cãi đặc biệt bởi nó trái ngược với bộ sử “Historiai” của nhà sử học Herodotos thời Hy Lạp cổ đại.

Marathon là một trong những sự kiện trước nhất của Olympic hiện đại năm 1896, nhưng đến tận năm 1921 thì chiều dài của cuộc đua mới được tiêu chuẩn hóa. bây giờ có hơn 800 vận cổ vũ marathon tranh tài hàng năm trên khắp thế giới, phần nhiều người tham dự là những vận khích lệ nghiệp dư hoặc những người thường ngày dự với mục đích giải trí. Những cuộc đua marathon lớn hơn có thể có hàng nghìn người dự.

Vạch xuất phát

Khi bạn hồi hộp đợi chờ cuộc đua bắt đầu, hormone adrenaline gây găng tay sẽ tăng lên và khiến nhịp tim của bạn tăng lên. Bộ não của bạn cũng sẽ gửi tín hiệu đến phổi để tăng nhịp thở.

Khi cuộc đua bắt đầu, quờ quạng các hệ thống tương trợ sinh lý của bạn – hệ thống cơ xương, tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, miễn nhiễm, tâm thần và nội tiết – sẽ tức tốc đi vào tình trạng quá tải. Tim của bạn sẽ phải bơm gấp ba đến bốn lần lượng máu xung quanh thân trong một cuộc chạy marathon so với khi bạn nghỉ ngơi. Máu được bơm từ tim của bạn sẽ được phân phối lại xung quanh thân thể bạn với nhiều cơ bắp hơn và ít hơn đến các cơ quan dạ dày và bụng như gan, thận và lá lách.

May mắn thay, cơn sốt adrenalin này là ngắn ngủi, và thân thể ấn từ khuỷu tay này đến khuỷu tay khác ngăn bạn dùng quá nhiều năng lượng cho sự bắt đầu. Giống như một chiếc xe đốt nhiên liệu để di chuyển, thân đốt cháy nhiên liệu để chạy. ví dụ như một người có trọng lượng trung bình 70 kg, thì mỗi km chạy, họ sẽ đốt cháy khoảng 100 kilocalo.

Nếubạn duy trì tốc độ ngày nay của mình, thân sẽ có đốt cháy hơn 3.000 kilocalo trong cuộc đua marathon, tương đương với việc mất khoảng 1/2 kg. Điều này thật là ham thích đúng không!

Vậy cơ thể lấy năng lượng từ đâu?

Bạn đang chạy thì hẳn nhiên thân thể cần tăng lượng oxy để bổ sung. Ngay bây giờ, cơ thể kết hợp oxy này với nhiên liệu để tạo ra năng lượng. Nhiên liệu đến từ ba chất thực phẩm dinh dưỡng chính là protein, chất béo và carbohydrate (đốn là tinh bột và đường).

Protein thường chỉ chiếm 2% đến 5% tổng tiêu xài năng lượng của thân thể, có nhẽ tăng lên tới 8% trong marathon. Chất béo đóng góp tới 60% năng lượng được tạo ra khi thân chúng ta nghỉ ngơi, nhưng khi chúng ta chạy, chỉ có 15% năng lượng mà chúng ta cần đến từ chất béo. thành thử cho vài giờ tiếp theo, thân bạn sẽ nhận được phần nhiều năng lượng của nó từ glucose (C6H12O6), đây là đường đơn được hình thành từ sự phá vỡ carbohydrate.

Nhiên liệu cho người chạy marathon là glucose, chất béo, hoặc cả hai, tùy thuộc về cường độ của một người chạy bộ tốc độ và thời điểm trong cuộc đua.

Trong quá trình hô hấp hiếu khí, glucose kết hợp với oxy tạo thành năng lượng như sau:

C6H12O6 + 6O2 → 6CO2 + 6H2O + năng lượng

Đối với người chạy bộ, nguồn hiệu quả nhất của glucose là một phân tử lớn gọi là glycogen được lưu trữ trong gan và cơ bắp. Một người làng nhàng có khoảng 2.000 kilocalo glycogen được lưu trữ, đó là đủ để chạy khoảng 20 km.

Đầu cuộc đua, thân bạn đang nhận được nhiều nhất glucose của nó từ glycogen trong cơ bắp. Sau đó, khi glycogen cơ bắp trở thành thấp, nhiều glucose sẽ đến từ glycogen gan.

Để tăng các lượng glycogen của bạn, ba ngày trước cuộc đua, bạn nên ăn rất nhiều carbohydrate chả hạn như mì ống, bánh mì và ngũ cốc. Sự kết hợp của chế độ ăn kiêng và luyên tập đã kích thích sản xuất glycogen trong cơ bắp. Khi bạn đang chạy, năng lượng cũng đến từ một quá trình không sử dụng oxy được gọi là hô hấp kỵ khí, quá trình này phân hủy glucose thành axit lactic (C3H6O3) và năng lượng như sau:

C6H12O6 → 2C3H6O3 + năng lượng

Khi thân thể bạn đang dần nóng lên, hồ hết năng lượng lên đường từ quá trình kỵ khí. Nhưng sau đó một vài km, như nhịp tim sẽ tăng và máu nhận được nhiều oxy hơn, quá trình hiếu khí trở thành nguồn đốn của năng lượng . mặc dầu vậy, trong cả thảy cuộc đua, năng lượng của bạn sẽ đến từ cả hai quá trình, trong đó quá trình hiếu khí sẽ ưu tiên hơn.

Trong những km đầu tiện, cơ thể thúc đẩy bạn muốn chạy nhanh hơn và bạn cảm thấy như thể bạn có thể chạy cả ngày với tại tốc độ này. Sau đó, bạn giảm dần để cho phép thân được hồi phục. thành ra, một lời khuyên là bạn nên giữ tốc độ ổn định để bảo tồn glycogen dự trữ và đốt cháy chất béo hiệu quả hơn.

Nhiệt và hydrat hóa

Lượng nhiệt do cơ thể tạo ra có thể tăng gấp 30 đến 40 lần trong cuộc đua marathon. Để giữ nhiệt độ thân thể của bạn trong khoảng từ 36 đến 38 độ C, một số máu sẽ được chuyển từ cơ bắp của bạn sang da, nơi các tuyến mồ hôi sẽ tạo ra hơi ẩm bay hơi vào bầu khí quyển để làm mát thân bạn.

Trong toàn bộ quá trình chạy marathon, bạn sẽ mất từ ​​ba đến sáu lít mồ hôi. Mất nước sẽ xảy ra nếu chất lỏng bị mất trong mồ hôi không được thay thế đầy đủ. Tùy thuộc vào điều kiện môi trường, thân thể bạn có thể bị buộc phải lựa chọn giữa việc gửi máu về tim và cơ bắp hoạt động, hoặc vào một hệ thống mao quản bên dưới da hoạt động như một hệ thống làm mát. Dù bằng cách nào, hiệu suất của bạn có thể bị ảnh hưởng bị động.

Trong trường hợp không có hydrat hóa hợp, mất nhiệt sẽ bị ngăn trở, lượng máu sẽ giảm và nhịp tim của bạn có thể bắt đầu tăng lên mà không có bất kỳ đổi thay trong vắt hoặc nhịp thở. Mất nước có thể xảy ra nhanh hơn và nguy cơ mỏi mệt sớm và các bệnh can hệ đến nhiệt có thể tăng lên, đặc biệt là nếu ngày đua trở thành ấm hơn bất ngờ so với thường nhật hoặc nếu độ ẩm cao.

Đâm đầu vào tường

Trong cuộc đua marathon, thân bạn sẽ dùng năng lượng gấp mười lần so với khi hoạt động hàng ngày thông thường. Năng lượng tăng thêm sẽ đến từ việc đốt cháy phối hợp giữa glucose và chất béo, với glucose là nhiên liệu được ưa chuộng. Tuy nhiên, con người chỉ có thể lưu trữ khoảng 2.000 calo glucose so với 700.000 đến 100.000 calo mà chúng ta có thể lưu trữ dưới dạng chất béo.

Người chạy đốt cháy khoảng 100 calo glucose cho mỗi km của cuộc đua marathon. Điều đó có tức là bạn sẽ đốt cháy sờ soạng nguồn cung glucose sau 32 km và sẽ bắt đầu phụ thuộc hồ hết vào chất béo làm nhiên liệu.

vì chưng chất béo cung cấp ít năng lượng trên mỗi đơn vị thời gian hơn glucose, bạn sẽ phải chậm lại. Đó là khi bạn có nguy cơ đâm vào “bức tường của người chạy bộ” khét tiếng. Đôi khi mức đường huyết có thể giảm xuống mức rất thấp dẫn đến một tình trạng gọi là hạ đường huyết. Uống đồ uống thể thao hoặc gel có đường trong cuộc đua có thể giúp duy trì mức đường huyết thông thường.

Bổ sung carbohydrate

Tại bất kỳ thời điểm nào của cuộc đua marathon, bạn đang sử dụng cả glucose và chất béo làm nhiên liệu. Khi bắt đầu cuộc đua marathon, khoảng 75% nhiên liệu của bạn là do chuyển hóa glucose và 25% là do chất béo. Khi cuộc đua tiến triển, tỷ lệ này đảo ngược.

Đến khoảng 20 km, bạn cảm thấy như thể không còn glycogen trong thân. Trên thực tiễn, glycogen không bao giờ đích thực hết nó chỉ giảm xuống mà thôi. Điều cần lúc này là bạn nên ghé những trạm hỗ trợ trên đường, và nó là điều duy nhất giúp bạn tiếp tục cuôc đua.

Một khi dự trữ glycogen rất thấp, thân sẽ dựa vào thứ tốt nhất tiếp theo để đốt cháy năng lượng chất béo. Thoạt nhìn, có vẻ như chất béo là nguồn năng lượng tốt hơn nhiều: Nó cung cấp 9 kilocalo mỗi gram, trong khi carbohydrate cung cấp 4 kilocalo mỗi gram. Nhưng thân thích chất béo của nó và không sẵn sàng để tự nó rất dễ dàng.

vì sao có nhiều người lại gặp sự cố trong tuổi này? Các lý do là dù rằng một lượng chất béo nhất quyết tạo ra năng lượng nhiều gấp đôi cùng một lượng glucose, để phá vỡ mỗi phân tử chất béo đòi hỏi bốn lần như nhiều phân tử oxy hơn để phá vỡ từng phân tử glucose. bởi vậy, thân thể chỉ đơn giản là có thể lấy oxy và tải nhanh đủ để chuyển đổi đủ chất béo thành năng lượng.

40.000 bước

Bạn sẽ mất khoảng 40.000 bước trong cuộc đua marathon. Mỗi lần chân bạn chạm đất, một lực tác động lớn được tạo ra sẽ gây thêm găng cho cơ và khớp của bạn. Kết quả là, bạn có thể bắt đầu cảm thấy đau ở đùi và bắp chuối ở một số giai đoạn trong cuộc đua marathon. Một số vận cổ vũ cũng bị đau ở cẳng tay, vai và lưng trên. Đừng lo lắng! Đau nhức cơ bắp là hoàn toàn bình thường trong và đặc biệt sau một cuộc chạy marathon, và đau nhức thường biến mất trong vòng một tuần. có lẽ bạn cũng sẽ bị đau khớp khi bạn ngừng chạy.

Đích đến

Sau khi hoàn tất cuộc đua marathon, hệ thống miễn nhiễm của bạn có thể bị tổn hại trong vài tháng sau khi chạy marathon và khiến bạn dễ bị cảm lạnh và nhiễm trùng. Ở một số vận động viên, chức năng tim có thể bị suy yếu trong một thời gian sau khi hoàn thành cuộc đua marathon. Những đổi thay trong chức năng tim có xu hướng xảy ra ở những người chạy nghiệp dư bộc trực hơn so với những vận động viên được đào tạo.

Lưu lượng máu đến thận của bạn sẽ giảm trong cuộc đua marathon và có thể làm suy giảm chức năng thận trong tối đa hai tuần. thương tổn thận sẽ được phối hợp bởi mất nước và tăng nhiệt độ thân chủ chốt.

Nhưng cho dù bạn nhìn nó như thế nào, chạy marathon là một thành quả to lớn. Vượt qua vạch đích là một cảm giác siêu thực mà rất ít người từng trải nghiệm. Những cơn đau nhức mà bạn sang trong và sau cuộc đua mau chóng lắng xuống và bạn sẽ được để lại một cảm giác thỏa mãn tuyệt.

Trên đây là những điều thú nhận về hóa học của chạy marathon. nom sẽ giúp ích phần nào cho các bạn trong ngày mai. Lần sau nếu ai có hỏi về chúng thì hãy nhớ về hóa học đằng sau nhé!

Tham khảo Brian Rohrig , Niall Moyna , A C Ames VnExpress .

Hóa học đằng sau sự tức giận

Bạn đã bao giờ phát điên đến mức bạn cảm thấy đầu nóng, máu sôi, lòng bàn tay đổ mồ hôi? Tôi chắc rằng mọi người sẽ trải qua bít tất những điều này trong khi tức giận. Tức giận là một điều thực sự rất thúc nếu bạn nghĩ về nó. Có rất nhiều hóa học khi bạn tức giận. vì vậy trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu về hóa học đằng sau sự tức giận nhé!

đầu tiên chúng ta hãy biết về những gì thực thụ là sự tức giận.

Tức giận là một phản ứng xúc cảm tự nhiên và hồ hết thời gian là phản ứng tự động đối với một hoặc một dạng đớn đau khác như nỗi đau về cảm xúc hoặc thể xác.

William DeFoore, một chuyên gia về quản lý tức giận đã tỏ bày sự tức giận như một nồi áp suất; người ta có thể gây sức ép chống lại sự tức giận chỉ trong một khoảng thời kì cố định cho đến khi nó bùng nổ.

Diễn biến của sự tức giận

  • Phản ứng vật lý: được gọi là phản ứng Flight to flight hay phản ứng găng tay cấp tính (theo wikipedia thì đây là một phản ứng sinh lý xảy ra để đáp ứng với một sự kiện có hại, tấn công hoặc đe dọa đến sự sống). Bạn diễn đạt cảm giác của mình bằng cách đổ mồ hôi, giãn tiểu đồng và tăng áp huyết.

  • Trải nghiệm nhận thức: là khi bạn đang nghĩ rằng những gì đang xảy ra với bạn là không công bằng hoặc sai.

  • Hành vi: là cách bạn biểu thị sự tức giận của bạn. Bạn có thể biểu đạt sự tức giận của mình theo cách lành mạnh hoặc không lành mạnh.

Hóa học đằng sau

Epinephrine và non-epinephrine là các hóa chất chính đóng vai trò quan trọng trong hóa học đằng sau sự tức giận. Khi không có các hóa chất này, cơ thể sẽ không thể đưa ra bất kỳ phản ứng nào trong khi bạn đang tức giận hoặc trong bất kỳ xúc cảm nào khác có can dự đến adrenaline.

Epinephrine còn được gọi là adrenaline là một hợp chất hóa học có công thức (HO)2C6H3CH(OH)CH2NHCH3 và được giải phóng trong khi trở thành tức giận. Epinephrine là một trong những hóa chất được giải phóng bởi tuyến thượng thận khi một cá nhân trải qua sự tức giận hoặc bất kỳ hình thức bao tay nào khác.

Epinephrine cho phép amygdala gửi tín hiệu đến thùy não trước, sau đó cho phép dẫn truyền thần kinh làm tăng nhịp tim của bạn và hiển thị các dấu hiệu khác về việc bạn trở nên tức giận.

Non-epinephrine còn được gọi là adrenaline là một hợp chất hóa học có công thức (HO)2C6H3CH(OH)CH2NH2. Đây là hóa chất theo dõi nhịp tim và áp huyết của bạn. Giảm lượng non-epinephrine nói chung là đặc điểm của người trầm cảm.

Hóa chất này chịu trách nhiệm cho các quyết định của bạn can dự đến việc xử lý tình huống theo cách tích cực hoặc thụ động. Non-epinephrine cung cấp cho một sức mạnh cá nhân và động lực để tự bảo vệ mình trong các cảnh huống cực kỳ nghiêm trọng.

Quản lý sự tức giận

Sự tức giận có thể có sức tàn phá kỳ lạ nếu chúng ta không biết cách giải quyết nó. lề thói bùng nổ hay bộc phá trực tính có hậu quả nghiêm trọng đối với cuộc sống lành mạnh, các mối quan hệ và dạng tâm trí của bạn. Nhưng tin tiệt là việc kiểm soát cơn giận dễ dàng hơn nhiều so với những gì bạn nghĩ. Quản lý tức giận có thể được biểu lộ là các kỹ năng người ta cần nhận ra và hành động để kiểm soát và ngăn chặn sự tức giận.

Bạn đã sẵn sàng để có được sự tức giận theo lề thói của bạn dưới sự kiểm soát? Sau đó, bắt đầu bằng cách xem xét 5 mẹo quản lý tức giận sau đây:

1. Nghĩ trước khi nói:

Đừng nói bất cứ điều gì trong thời khắc nóng mà sau này bạn sẽ ăn năn. Trước khi nói bất cứ điều gì hãy đợi một thời gian, thu thập suy nghĩ của bạn và để người ở phía bên kia cũng làm điều rưa rứa.

2. Nghe hiệu quả:

Tình hình trở nên bực bội trong sự hiện diện của thông báo lệch lạc. Sẽ dễ dàng hơn để tìm một giải pháp mà không có sự liên can của sự tức giận nếu bạn lắng tai một cách tốt hơn với những gì ai đó đang nói.

3. Học cách để hạ nhiệt:

  • Hít thở sâu: Hít thở sâu lấy càng nhiều không khí trong sạch càng tốt. Thư giãn bằng cách đi dạo, nghe nhạc yêu thích hoặc làm những gì bạn yêu thích nhất.
  • Tập thể dục và khỏe mạnh: Tập thể dục bộc trực và hợp có thể giúp bạn thư giãn trong các cảnh huống bao tay. Ngủ đủ giấc và thực hành chế độ ăn uống lành mạnh để cảm thấy thư giãn hơn.
  • Xoa bóp các khu vực găng của bạn: nếu vai của bạn bị căng, hãy nhẹ nhõm xoa bóp vùng cổ, đầu và da đầu của bạn.

4. Đừng giữ ác cảm với bất kỳ ai:

miễn thứ là một trong những công cụ mạnh mẽ mà một cá nhân có thể thích nghi để hạnh phúc. Để bảo đảm mối quan hệ lâu dài lành mạnh, bạn cần lượng thứ và quên đi. Hãy cố kỉnh thực tế trong tự nhiên và ưng thực tế rằng mọi người theo cách của họ, mọi người đều khác nhau.

cố gắng tìm ra sự khôi hài từ sự tức giận của bạn, dùng sự đồng cảm, xây dựng niềm tin và rứa nhận thức được các dấu hiệu và nhân tố đằng sau sự tức giận của bạn như đau đầu, tim đập thình thịch, v.v.

5. Quản lý tức giận bằng thuốc

Vì tức giận là một mối quan tâm tâm lý, điều trị bằng thuốc là có thể. Mục đích chính của thuốc là để bổ sung cho việc chữa lành và không làm phức tạp quá trình chữa bệnh của bạn. Bạn cần kê đơn cho bác sĩ về các vấn đề tức giận của bạn và về các loại thuốc.

Thuốc chống trầm cảm như Prozac, Celexa và Zoloft thường được kê đơn cho các vấn đề liên hệ đến sự tức giận. Những loại thuốc này đặc biệt không nhắm vào sự tức giận trong thân, nhưng chúng cũng có kết quả làm dịu có thể tương trợ kiểm soát cơn thịnh nộ và cảm giác tiêu cực.

Trên đây là những điều thú vị của hóa học đằng sau sự tức giận. nhòm sẽ giúp cho các bạn phần nào trong ngày mai, đặc biệt trong sự kiểm soát cảm xúc tức giận của chính mình. Lần sau nếu có ai hỏi về sự tức giận thì hãy nhớ về hóa học đằng sau nhé!

Tham khảo Chemistryislife , Worldofchemicals , Sciencelass Inform .

Thời Tiết

Lời Dặn Dò

Tỷ Giá

Bài đăng phổ biến