Bạn đã bị nhiễm COVID-19? Ngay cả khi bạn có các triệu chứng hạp với nó, bạn có thể không biết kiên cố nếu bạn không xét nghiệm tại thời điểm đó. Nhưng xét nghiệm kháng thể mới được duyệt y, có thể cho bạn biết nếu bạn bị nhiễm trùng. xác thực những gì các xét nghiệm này có thể cho chúng ta biết?
Trước khi đi vào nội dung chính của bài, chúng ta hãy tìm hiểu một vài khái niệm căn bản trước đã. trước tiên là:
Kháng thể là gì?
Kháng thể là các protein nhỏ lưu thông trong máu, là một phần trong hệ thống miễn nhiễm và có thể gọi là globulin miễn dịch. Kháng thể được sinh sản bởi các tế bào lympho B hay còn gọi là tế bào bạch huyết cầu. Các kháng thể gắn vào protein và các hóa chất khác nhau mà chúng nhận ra là có cỗi nguồn từ bên ngoài vào trong thân. Các protein bên ngoài và hóa chất mà kháng thể gắn lại được gọi là kháng nguyên.
Hay nói một cách đơn giản thì khi một tác nhân lây nhiễm (hoặc kháng nguyên) thâm nhập vào thân thể bạn, hệ thống miễn dịch của bạn sẽ phát hiện ra chúng. Sau đó, hệ thống miễn dịch tạo ra các kháng thể, một loại phân tử protein đặc biệt. Chúng tiêu diệt hoặc vô hiệu hóa kháng nguyên, chống lại nhiễm trùng. Vì thế, thân thể nào có khả năng hình thành kháng thể càng mạnh thì khả năng miễn nhiễm chống lại các bệnh nhiễm khuẩn càng cao.
Các loại kháng thể
Có nhiều loại kháng thể khác nhau. thân thể con người tạo ra năm loại khác nhau (hoặc dùng thuật ngữ kỹ thuật là kiểu hình) của kháng thể là: IgM, IgD, IgG, IgA và IgE. tỉ dụ như ‘Ig’ là viết tắt của ‘immunoglobin’ (loại protein có kháng thể). Mỗi loại kháng thể có đặc điểm và vai trò khác nhau trong cơ thể. Trong đó,
- IgG : Là kháng thể phổ quát nhất trong máu, trong sữa non và các dịch mô. IgG xuyên qua nhau thai, bảo vệ con trong những tuần lễ đầu đời sau khi sinh khi hệ miễn dịch của trẻ chưa phát triển.
- IgA : Chiếm khoảng 15 – 20% trong máu, trong sữa non, nước mắt và nước bọt nước bọt. Khi IgA được được tiết ra ở đâu thì chúng chống lại các tác nhân gây bệnh tại đó.
- IgM : Là lớp miễn nhiễm đầu tiên được tổng hợp ở trẻ lọt lòng. Kết hợp với các kháng nguyên đa chiều như virus và hồng huyết cầu, giúp xoá sổ kháng nguyên xấu, bảo vệ thân.
- IgE : Chiếm tỷ lệ khá lớn và giữ vai trò trong phản ứng quá mẫn cấp cũng như trong cơ chế miễn dịch chống ký sinh trùng.
- IgD : Chiếm tỷ lệ ít ra chỉ 1% trên màng tế bào, dị hoá nhanh và rất dễ bị thuỷ phân bởi enzyme plasmin trong quá trình đông máu. bởi thế, IgD là kháng thể có ít chức năng nhất trong quá trình hoạt hoá kháng nguyên.
quờ các loại kháng thể này có hai vùng chung. Vùng không đổi, y hệt nhau trong các kháng thể cùng loại và vùng biến đổi. Vùng biến đổi khác nhau cho các kháng nguyên khác nhau. Các biến thể đặc biệt kết liên với các kháng nguyên cụ thể. liên kết cho phép các kháng thể diệt các kháng nguyên này hoặc đánh dấu chúng để phá hủy bởi các tế bào hệ thống miễn dịch khác.
miễn nhiễm với bệnh
miễn nhiễm đối với một bệnh cụ thể có liên tưởng đến kháng thể. Khi chúng ta đã phục hồi sau khi bị nhiễm trùng, các tế bào miễn dịch của chúng ta ‘nhớ’ kháng nguyên. Nếu chúng ta bị nhiễm cùng một loại kháng nguyên một lần nữa, hệ thống miễn nhiễm của chúng ta sẽ nhanh chóng tạo ra các kháng thể một lần nữa để loại bỏ nó. miễn dịch này là suốt đời đối với một số bệnh, nhưng mất dần cho những người khác.
Xét nghiệm kháng thể
Xét nghiệm kháng thể đôi khi được mô tả dưới dạng thí nghiệm miễn dịch – mặc dù, như chúng ta sẽ thảo luận, nó có thể phức tạp hơn một tẹo so với điều đó. Các xét nghiệm kháng thể, thỉnh thoảng được gọi là xét nghiệm huyết thanh học, thường kiểm tra sự hiện diện của kháng thể IgM hoặc IgG đối với một kháng nguyên nhất thiết.
Kháng thể IgM là loại kháng thể trước tiên được tạo ra để đáp ứng với nhiễm trùng, xuất hiện trong máu sau 5 đến 10 ngày. Sản lượng của chúng đạt đỉnh khoảng ba tuần sau khi bị nhiễm bệnh ban sơ và sau đó giảm dần. Chúng chỉ có thể được phát hiện bằng cách thí điểm trong 2 đến 4 tháng.
Kháng thể IgG là kháng thể phổ biến nhất được tạo ra để đáp ứng với nhiễm trùng, chiếm khoảng 75% kháng thể trong máu. Quá trình sinh sản của chúng mất nhiều thời gian hơn (10 đến 14 ngày) và đạt cực đại sau 4 đến 8 tuần) so với kháng thể IgM. Tuy nhiên, chúng vẫn tồn tại ở trong máu lâu hơn nhiều. Tùy thuộc vào kháng nguyên cụ thể, chúng có thể được phát hiện trong nhiều tháng hoặc thậm chí nhiều năm sau khi bị nhiễm bệnh. Chúng cũng là kháng thể chính được sinh sản nhanh chóng nếu chúng ta bị tái nhiễm bởi một kháng nguyên.
Bằng cách rà soát các kháng thể IgM và IgG, chúng ta đang cụ giải đáp câu hỏi, có phải bệnh nhân này đã bị nhiễm trùng đặc biệt trước đó không? Câu giải đáp cho câu hỏi này được xác định từ sự hiện diện hay vắng mặt của các kháng thể này.
Kết quả của xét nghiệm kháng thể
Nếu xét nghiệm kháng thể phát hiện cả kháng thể IgM và IgG trong mẫu bệnh nhân, có khả năng bệnh nhân không bị nhiễm trùng. Vì việc sinh sản kháng thể không bắt đầu trong vài ngày, chúng ta không thể nói kiên cố – chúng có thể ở thời đoạn đầu của nhiễm trùng. Cũng có khả năng họ bị nhiễm trùng nhưng không còn mức kháng thể phát hiện được nữa.
Nếu xét nghiệm kháng thể phát hiện kháng thể IgM trong mẫu bệnh nhân, nhưng không phải là kháng thể IgG, có khả năng bệnh nhân đang ở thời đoạn đầu của nhiễm trùng. Như chúng ta đã đề cập trước đây, việc sinh sản IgM bắt đầu sớm hơn IgG.
Nếu xét nghiệm kháng thể phát hiện cả kháng thể IgM và IgG trong mẫu bệnh nhân, có khả năng họ bị nhiễm trùng hoạt động. Ngoài ra, gần đây họ đã bị nhiễm trùng. Đã có đủ thời kì kể từ khi nhiễm trùng ban đầu của bệnh nhân để sinh sản cả hai loại kháng thể, nhưng nồng độ IgM vẫn chưa giảm.
Cuối cùng, nếu xét nghiệm kháng thể chỉ phát hiện kháng thể IgG trong mẫu bệnh nhân, có khả năng bệnh nhân đã bị nhiễm trùng và bình phục. Điều này cũng có tức là bệnh nhân miễn nhiễm với tái nhiễm bởi cùng một kháng nguyên.
Đôi điều …
Bạn có thể tự hỏi vì sao kháng thể không đảm bảo khả năng miễn nhiễm? Nếu bạn có kháng thể đối với một căn bệnh, bạn có thể có một số chừng độ miễn dịch với nó. Nhưng xét nghiệm kháng thể chẳng thể cho chúng ta biết hiệu quả của kháng thể của một bệnh nhân trong việc vô hiệu hóa kháng nguyên. Số lượng kháng thể được sinh sản cũng có thể quan yếu. Một số xét nghiệm kháng thể có thể xác định lượng kháng thể cụ thể trong máu là bao lăm, nhưng những xét nghiệm khác thì chẳng thể.
Khi nói đến SARS-CoV-2, chúng ta không biết khả năng miễn nhiễm có thể kéo dài bao lâu, ngay cả đối với những bệnh nhân có kháng thể. Các coronavirus nổi tiếng hơn tả như một bức tranh hỗn hợp. Một số, như SARS, đã tạo ra các kháng thể giúp con người miễn dịch trong một vài năm. miễn nhiễm với người khác, như coronavirus gây cảm lạnh thường nhật, chỉ có thể kéo dài một vài tháng. ngày nay, không có trường hợp nào được xác nhận tái nhiễm ở người với SARS-CoV-2, nên chúng ta chưa biết vững chắc khả năng miễn nhiễm kéo dài bao lâu.
Độ nhạy và độ đặc hiệu
Hãy bỏ qua miễn nhiễm sang một bên, vậy làm thế nào xét nghiệm kháng thể là chính xác? Bạn có thể đã nghe các thuật ngữ như ‘độ nhạy’ và ‘độ đặc hiệu’ hệ trọng đến xét nghiệm kháng thể đối với coronavirus. Những thuật ngữ này đo tần suất xét nghiệm kháng thể tạo ra kết quả xác thực. Một lý do chính khiến nó mất thời kì để xét nghiệm kháng thể xác thực trở thành khả dụng là do các vấn đề với các góc cạnh này.
Độ nhạy liên tưởng đến tần suất xét nghiệm xác định chính xác các kháng thể trong các mẫu có chứa kháng thể đối với một kháng nguyên cụ thể. Hãy mường tưởng chúng ta có mười bệnh nhân, quơ đều có kháng thể kháng nguyên. Một xét nghiệm với độ nhạy 100% sẽ xác định xác thực các kháng thể trong các mẫu từ quơ những bệnh nhân này.
Nếu xét nghiệm có độ nhạy 90%, điều đó có tức thị cứ mười bệnh nhân có kháng thể, xét nghiệm sẽ xác định không chính xác một bệnh nhân không có kháng thể. Đây là những gì được gọi là âm tính giả. Vì vậy, độ nhạy của xét nghiệm càng cao thì càng ít âm tính giả.
Độ đặc hiệu hệ trọng đến tần suất xét nghiệm xác thực cho kết quả âm tính đối với những bệnh nhân không có kháng thể với một kháng nguyên cụ thể. Hãy mường tượng mười bệnh nhân của chúng ta một lần nữa; lần này, không ai trong số họ có kháng thể kháng nguyên. Một xét nghiệm với độ đặc hiệu 100% sẽ cho kết quả âm tính xác thực cho hết thảy những bệnh nhân này.
Nếu xét nghiệm có độ đặc hiệu 90%, điều đó có tức là cứ mười bệnh nhân không có kháng thể, thì sẽ xác định không chuẩn xác một trong số họ có kháng thể. Đây là những gì được gọi là dương tính giả. Nó có thể có vấn đề hơn là âm tính giả, vị người này có thể nghĩ rằng họ đã bị nhiễm trùng khi họ không có. Độ nhạy của xét nghiệm càng cao, càng ít kết quả dương tính giả.
cố nhiên rõ ràng là chúng ta muốn cả độ nhạy và độ đặc hiệu càng gần 100% càng tốt. thể nghiệm Roche gần đây được thông qua ở Anh tuyên bố có độ nhạy 100% – nghĩa là, nó không tạo ra bất kỳ âm tính giả nào. Độ đặc hiệu của xét nghiệm là 99,8% – có nghĩa là cứ 500 người được xét nghiệm không có kháng thể thì chỉ có kết quả của một người sẽ trả về kết quả dương tính giả.
Xét nghiệm Roche là một trong hai xét nghiệm kháng thể đạt được sự ưng cho đến nay tại Vương quốc Anh và các xét nghiệm của các công ty khác đã được chuẩn y ở các quốc gia khác. Bạn có thể tự hỏi tại sao chúng ta cần hai bài rà soát khác nhau và liệu chúng có hoạt động khác nhau không? Nếu vậy, hãy soát lại phần tiếp theo của hành động nhân đôi xét nghiệm kháng thể này, xem xét cách thức các loại xét nghiệm kháng thể khác nhau hoạt động.
Bài viết đến đây là hết rồi. dòm sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong tương lai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!
Tham khảo Compound Interest , Thermofisher , Vimec và Báo tin cẩn .
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét